D-Crew
Latest topics
» Detective Conan - file 770
Sun Jan 08, 2012 5:31 pm by 6-24-18-6-2

» Detective Conan - file 769
Sun Jan 08, 2012 5:25 pm by 6-24-18-6-2

» Detective Conan - file 768
Sun Jan 08, 2012 5:17 pm by 6-24-18-6-2

» Detective Conan - file 767
Sun Jan 08, 2012 5:11 pm by 6-24-18-6-2

» Detective Conan - file 766
Sun Jan 08, 2012 5:01 pm by 6-24-18-6-2

» Detective Conan - file 765
Sun Jan 08, 2012 4:52 pm by 6-24-18-6-2

» Detective Conan - file 764
Sun Jan 08, 2012 4:46 pm by 6-24-18-6-2

» Detective Conan - file 763
Sun Jan 08, 2012 4:42 pm by 6-24-18-6-2

» Detective Conan - file 762
Sun Jan 08, 2012 4:40 pm by 6-24-18-6-2

December 2017
MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031

Calendar Calendar


[Jenny Nimmo] Charlie Bone - Tập 1: Charlie Bone lúc nửa đêm (4)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

[Jenny Nimmo] Charlie Bone - Tập 1: Charlie Bone lúc nửa đêm (4)

Bài gửi by HD on Sat Feb 12, 2011 3:39 pm

Chương IX
CĂN PHÒNG CỦA VUA ĐỎ


Olivia và Charlie bị điệu ra cửa rồi bị tống ra ngoài hành lang.

"Sao bây giờ?" Charlie rầu rĩ hỏi.

"Đến phòng để áo khoác đi, ở đó nói chuyện được," Olivia thì thầm.

Charlie đi theo Olivia xuống tiền sảnh, qua một cánh cửa bên dưới hình hai chiếc mặt nạ màu vàng, một mặt cười một mặt khóc. Phòng để áo khoác tím thú vị hơn phòng để áo khoác xanh da trời. Ở đây chứa đầy nhóc các loại trang phục lạ lùng : nón cắm lông, nón kỵ sĩ, nón chóp nhọn... Trên các bức tường treo đầy hoa và mặt nạ; sàn nhà la liệt những ủng với giầy, đủ mọi kích cỡ và kiểu dáng. Olivia hất văng đôi giày tím đang mang ra, xỏ chân vô một đôi giày mềm, gót thấp, trông mộc mạc.

"Thấy cái này được không?" Nó hỏi Charlie. Charlie nhún vai.

"Đừng có làm mặt rầu rĩ vậy chớ. Chuyện đâu đến nỗi tệ lắm đâu. Tớ bị cấm túc hoài. Tớ đi thám hiểm. Tớ đã biết được bao nhiêu chuyện hay ho về chỗ này."

"Nhưng rủi không kiếm lại được áo chùng thì sao? Mình sẽ lại bị cấm túc nữa."

"Tớ nghĩ tớ biết kiếm nó ở đâu," Olivia bảo Charlie. "Lúc giải lao tớ có vô phòng giữ áo khoác của đằng ấy để tìm ba lô của tớ... mà đằng ấy đã tử tế nhặt lại giùm đấy. Còn một người duy nhất ở đó là cái anh chàng mặt dài, tóc rũ rượi. Lúc tớ bước vô là nó chạy vọt ra, coi bộ lấm la lấm lét bí mật gì đó. Nó cầm một cái áo chùng xanh ngọc bích."

"Bồ có biết tên người đó không?" Charlie hỏi.

"Gabriel gì-gì-đó," Olivia trả lời. Nếu nó đã đổi áo của đằng ấy rồi thì tốt nhất là đằng ấy cứ mặc áo của nó đã, cho tới khi đằng ấy chứng minh được cái áo kia là của đằng ấy".

"Cám ơn, Olivia!" Charlie bắt đầu cảm thấy lạc quan hơn. "Mình sẽ mặc áo vô ngay đây."

"Hẹn gặp đằng ấy vào bữa tối," Olivia chào khi Charlie phóng vù qua tiền sảnh, vô phòng để áo khoác xanh da trời.

Khi Fidelio ra khỏi lớp học tiếng Anh, nó thấy Charlie đang mặc chiếc áo chùng rách tơi tả.

"Mừng là em đã hiểu ra," Fidelio nói khẽ. "Theo anh tới căn tin xanh da trời nào."

Charlie đi theo. Căn tin xanh da trời nằm ở chót cuối sau khi băng qua mấy cái hành lang dài, và Charlie cố nhớ đường đi bằng cách nghiên cứu những hình vẽ trên các bức tường. Quan trọng nhất là phải biết xem có thể tìm ra thức ăn ở đâu. Hầu hết các bức vẽ đều là chân dung của những người đàn ông, đàn bà nom nghiêm nghị. Cứ như họ vượt thời gian quay trở lại vậy, nhìn trang phục là biết ngay họ thuộc thế kỷ nào. Nó bắt đầu nhận ra những cái họ : Raven, Silk, Yewbeam, Pike, và Bloor. Charlie vốn không giỏi môn lịch sử, nhưng nó chắc chắn những chân dung này đang dẫn dắt nó trở lại cái thời mà người ta vẽ lên tường.

Cuối cùng, chúng đi vô một căn phòng rộng rinh, ẩm thấp, bốc mùi bắp cải luộc. Trong khi xếp hàng lĩnh phần ăn của mình, Charlie kể cho Fidelio nghe về chuyến viếng thăm phòng để áo khoác xanh da trời của Olivia.

"Có một thằng trông lấm lét cầm một cái áo chùng," Charlie nói. "Olivia nói tên nó là Gabriel gì gì đó."

"Gabriel Silk," Fidelio chỉnh. "Nó học dương cầm. Anh nghĩ thằng này có phép thuật. Nó chắc chắn là loại quái dấm."

"Quái dấm?" Charlie hỏi.

Fidelio hất đầu về phía hàng học trò đã lĩnh phần ăn xong.

"Nó là cái thằng ở cuối hàng."

Charlie thấy một thằng con trai cao nhòng, gương mặt dài, tóc tai rũ rượi, màu lông chuột. Tất cả mọi thứ ở nó đều có vẻ hờ hững và lóng ngóng, kể cả hai bàn tay.

"Trông nó hình như vui vẻ hơn thường ngày," Fidelio nói. "Úi! Nhưng giờ hết vui nổi rồi."

Gabriel Silk vừa đánh rơi chồng sách mà nó cố kẹp dưới nách, giờ lại đang chật vật giữ thăng bằng dĩa đồ ăn trong khi lượm lại mấy cuốn sách rơi.

"Em thắc mắc không biết có phải đó là áo chùng của em không," Charlie nói. "Mẹ em thêu tên tắt của em đằng sau áo. Mẹ em dùng chỉ xanh lá cây vì không tìm ra sợi chỉ trắng nào."

"Tối nay tụi mình sẽ coi thử," Fidelio nói. "Chắc chắn tới lúc đó nó mới cởi áo ra."

Một cái dĩa đựng thứ gì nâu nâu và xanh lá cây được dúi vô tay Charlie, và nó đi theo Fidelio tới một cái bàn trống. Sau vài miếng, Charlie nhận ra Fidelio hình như đang thưởng thức món bắp cải trông phát ói và bỏ lại đống màu nâu.

"Anh ăn chay," Fidelio giải thích. "Họ không bao giờ cho mình xơi cái gì mà mình có thể xơi được. Anh hy vọng em thích món thịt băm của anh."

"Vậy ra đó là thịt băm à? Em ăn được. Anh ăn phần bắp cải của em đi."

Hai đứa đang đổi thịt băm với bắp cải, đúng lúc cô Chrystal - giáo viên đàn dây - đi ngang qua bàn chúng.

"Các trò biết như thế là không được phép mà," cô nói kèm theo nụ cười.

Charlie có ấn tượng rằng cô Chrystal không phải là người nghiêm khắc. Mùi bắp cải đôi lúc bị mùi nước hoa thơm phức của cô đè bẹp.

"Xin lỗi, cô Chrystal," Fidelio nói, cười ngoác đến mang tai. "Đây là Charlie Bone; trò ấy mới đến hôm nay."

"Chào, Charlie," cô Chrystal nói. "Nếu cô có thể giúp gì được cho em thì Fidelio sẽ biết kiếm cô ở đâu."

Rồi cô lại hào phóng ban một nụ cười rạng rỡ cho Fidelio và đi khỏi. Thật dễ chịu khi biết ít nhất có một giáo viên thân thiện trong Học Viện này.

Phần thời gian còn lại trong ngày trôi qua mà không có biến cố nào khó chịu. Charlie đi theo Fidelio từ phòng này tới phòng kia, ra căn tin dùng bữa trà, rồi lại ra sân chạy cuốc cuối trước khi trời tối. Nhưng khi đèn bắt đầu bật sáng toà nhà xám, cao lớn, và bầu trời đêm phủ trùm các cửa sổ, nó mới thấy nhớ nhà. Và khi đi qua những hành lang trên đường đi ăn tối, nó hình dung ra căn bếp ấm cúng ở nhà số 9 và một dĩa mì Ý đặc biệt mà ngoại Maisie vẫn làm cho nó. Nó ngoái đầu nhìn cánh cổng đôi nặng nề, cao vợi ngăn cách với thế giới bên ngoài.

"Vậy không hay đâu, Charlie," Fidelio thì thầm. "Họ sẽ không mở cửa cho đến thứ Sáu. Anh đã thử rồi."

"Lúc mới đến anh có nhớ nhà không?" Charlie hỏi.

"Có. Nhưng không lâu. Thứ Sáu tới mau thôi mà."

"Em sẽ không được về nhà vào thứ Sáu. Em bị cấm túc rồi," Charlie nói ủ rũ. "Manfred phạt em."

"Thật không tin nổi!" Fidelio rõ ràng bị sốc. "Mới ngày đầu tiên mà. Manfred chắc chắn cố ý gán tội cho em rồi."

Nhưng khi nhìn vẻ mặt bi thương của Charlie, nó vội thêm:

"Sắp có sự ngạc nhiên cho em đây. Chúng ta sẽ gặp toàn trường. Và nhà ăn lớn là một nơi anh không biết làm sao diễn tả hết cho em được."

Fidelio nói đúng. Chúng cùng nhau bước xuống những hành lang dội âm, đi về phía căn tin xanh da trời, sau đó đi thêm nữa. Giờ, chúng đang đổ dốc, từ từ, vô một cái hang khổng lồ dưới lòng đất, và Charlie thấy những đứa trẻ khoác áo chùng xanh lá cây và áo chùng màu tím nhập bọn với chúng. Cái đám con nít đông đúc đó quành vô một cầu thang rộng, rồi lại đi xuống, xuống một hành lang dài khác, cái này lại dẫn tới một sảnh đường rộng mênh mông.

"Chúng ta đang ở bên dưới thành phố," Fidelio nói. "Đây là nơi cổ nhất của toà nhà. Nơi mà người ta cho rằng các hậu duệ của Vua Đỏ đã giam giữ tù nhân của họ."

Lại Vua Đỏ.

"Vua Đỏ là ai vậy?" Charlie hỏi.

Fidelio nhún vai.

"Ông xây toà lâu đài bỏ hoang, anh chỉ biết có thế thôi. Anh nghĩ ông ấy thì OK, nhưng người ta nói có mấy đứa con của ông là một bọn thật sự hắc ám. Đi lẹ lên nào, không tụi mình trễ bây giờ."

Ở cả hai phía của ba chiếc bàn cực kỳ dài là những băng ghế đang lấp đầy dần những trẻ con là trẻ con. Áo chùng xanh da trời ngồi bên trái, áo chùng tím ở chính giữa và áo chùng xanh lá cây bên phải. Ở đầu mỗi bàn có một huynh trưởng đang múc xúp ra từ một cái liễn thép to tướng. Những đứa trẻ khác đang phân phát từng khúc bánh mì.

Phía cuối sảnh đường, trên một cái bục cao, đội ngũ giáo viên của Học viện ngồi kín cái bàn thứ tư, Bàn Danh Dự, đó là Fidelio nói cho Charlie biết. Cuối cùng, lần đầu tiên, Charlie cũng đã thoáng thấy được giáo sư Bloor. Ông ta mặc áo chùng đen như những giáo viên dạy các môn học khác ngoài ba môn nghệ thuật, nhưng không thể lẫn ông ta vào đâu được. Ông ngồi ngay chính tâm chiếc Bàn Danh Dự và đưa mắt nhìn khắp đám con nít đang líu lo, lách chách. Đó là một người đàn ông lực lưỡng, uy quyền, tóc xám và thẳng, ria mép được tỉa khéo léo.

Dưới đôi lông mày chổi xể, đôi mắt đen nhỏ của giáo sư Bloor quét khắp ba chiếc bàn dài; và Charlie ngây người ra dòm theo ánh nhìn của người đàn ông to lớn, cuối cùng mắt họ giao nhau.

Giáo sư Bloor đứng lên. Ông bước khỏi cái bục cao và bắt đầu đi xuống lối đi giữa các dãy bàn xanh da trời và bàn tím. Ông tịnh không rời mắt khỏi Charlie.

"Sao vậy?" Fidelio hích khuỷu tay Charlie. "Em không thích xúp à?"

Charlie không thể trả lời. Giáo sư Bloor đã đến chỗ nó.

"Charlie Bone!"

Đó chính là cái giọng nói nghe rợn cả xương từng thoát ra từ trang báo.

"Hân hạnh có trò ở đây."

Charlie thều thào rằng nó vui mừng được học ở Bloor, nhưng nó gần như không nhận ra mình đang nói cái gì. Theo bản năng, nó ngó chăm chăm gương mặt to đang đổ bóng xuống, và nó sững sờ, phát hiện ra rằng không những mình nghe được giọng nói từ những tấm hình, mà khi sợ hãi thì nó còn có thêm khả năng khác: nó đọc được nét mặt. Charlie thấy rằng nó đã biết, không cần hỏi ai là người đã bắt đứa con của tiến sĩ Tolly.

Ngoại Maisie luôn nói rằng gương mặt có thể nói cho ta biết rất nhiều điều về một con người. Gương mặt này bắt đầu nói cho Charlie biết nhiều hơn những gì nó muốn biết. Nó vội đóng chặt tâm trí mình lại trước gương mặt đó, một cách nhanh chóng và cương quyết.

"Có sao không vậy?" Fidelio hỏi Charlie. "Trông em như vừa nhìn thấy một con ma thế."

Charlie nhìn cái lưng rộng của giáo sư Bloor đi xa dần. Ông ta dừng lại một lần nữa, và nói chuyện với một nữ sinh áo chùng xanh lá cây. Con bé có mái tóc vàng nhợt nhạt, và khi ngước lên, nó cau mày. Charlie nhận thấy đôi mắt to màu xanh da trời của con bé có vẻ hoảng hốt và sợ sệt.

"Charlie!" Fidelio huých nó. "Cái gì thế?"

"Nhỏ kia là ai vậy?" Charlie hỏi. "Nhỏ đang nói chuyện với giáo sư Bloor ấy."

"Emilia Moon," Fidelio nói. "Nó học hội họa. Môn ấy nó khá đấy. Trứng với khoai tây chiên ra rồi kìa, tốt nhất em ăn cho hết xúp đi, không thì sẽ không được nhận thêm gì đâu. Luật lệ đấy."

Charlie lùa vội muỗng xúp cuối cùng vô miệng, ngay khi một dĩa trứng và khoai tây chiên được chuyền tới chỗ nó. Nó chuyền cái tô trống không theo hàng về tận cuối bàn, nơi Billy Raven đang xếp thành từng chồng.

Emilia không đụng tới món xúp. Con bé nhăn nhó với tô xúp như thể không hiểu tại sao từ đâu lại chui ra cái món xúp này. Charlie cảm thấy mình nên báo cho Emilia biết là đã có món trứng và khoai tây chiên, nhưng con bé ở quá xa.

"Tụi mình có bánh pút đinh tráng miệng không?" Nó hỏi Fidelio một cách hy vọng.

"Em giỡn chắc. May lắm thì có được một trái táo," Fidelio nói. "Hoặc một trái lê."

Và chúng đã may mắn. Một trái lê trôi tới trước mặt Charlie, ngay sau món trứng và khoai tây chiên.

Khi bữa tối chấm dứt và những chiếc dĩa cuối cùng đã được xếp ngay ngắn, giáo sư Bloor tiến lên cái bục cao và vỗ vỗ tay. Im lặng bao trùm tức khắc.

"Tôi có một thông báo," giáo sư nói nghiêm trang. "Một cậu trai mới tới để nhập vô hàng ngũ những người được ban phép thuật. Charlie Bone, đứng lên."

Nóng ra cả người, Charlie đứng dậy. Hơn ba trăm cặp mắt quay về phía nó, đầu gối bắt đầu va lập cập vô nhau.

"Charlie!"

Giáo sư đọc to tên nó mà nghe như thể cái tên ấy là một sai lầm ghê ghớm.

"Sau bữa tối chúng ta có hai giờ bài tập về nhà. Những đứa trẻ có phép thuật sẽ học trong phòng Nhà Vua."

Ông dừng lại vài giây, nhìn quanh đám trẻ im thin thít và bất động. Và rồi, bằng giọng ầm ầm như sấm khiến Charlie giật thót lên, ông ra lệnh:

"Giải tán!"

"Phòng Nhà Vua ở đâu?" Charlie rối rít hỏi, khi Fidelio đứng lên khỏi băng ghế.

"Đi theo Gabriel ấy," Fidelio khuyên. "Hoặc Billy Raven cũng được... bám theo nó thì dễ hơn. Anh phải đi đây, Charlie. Ba phút nữa tụi anh phải có mặt trong lớp rồi. Gặp lại tối nay!"

Fidelio lướt đi, hòa vô dòng áo chùng đủ màu sắc đang dồn ứ về phía cuối nhà ăn tối. Charlie nháu nhàu tìm cái đầu trắng của Billy Raven. Nhưng thằng bé bạch tạng bé xíu này bị chìm lỉm trong khối trẻ con chen lấn xô đẩy nhau. Cuối cùng Charlie cũng phát hiện ra thằng bé. Nó đang thành thạo rẽ đường luồn lách giữa mấy bọn khác, phải mất một hồi Charlie mới đuổi kịp nó.

"Chào em!" Charlie nói, túm được vạt áo chùng của Billy. "Cho anh đi cùng với nhé? Anh không biết phòng Nhà Vua ở đâu."

"Ít người biết lắm," Billy nói, cười toét. "Muốn nhớ được đường tới đó cũng phải mất một lúc kìa. Nhưng em sẽ là hướng dẫn viên cho anh, miễn là anh muốn vậy."

Charlie chưa kịp lầm thầm một lời cám ơn thì Billy đã ào đi. Trước tiên tới dãy ngăn tủ để lấy tập và viết, sau đó trở lại tiền sảnh, xuống một lối đi, quẹo một khúc quanh, và leo lên một cầu thang. Cuối cùng chúng tới cánh cửa đôi cao vời, sơn đen. Billy đẩy một cánh cửa ra và chúng bước vô một căn phòng lạ lùng, hình tròn. Có mười đứa trẻ đang ngồi quây quanh một chiếc bàn tròn.

Chương IX
CĂN PHÒNG CỦA VUA ĐỎ


Olivia và Charlie bị điệu ra cửa rồi bị tống ra ngoài hành lang.

"Sao bây giờ?" Charlie rầu rĩ hỏi.

"Đến phòng để áo khoác đi, ở đó nói chuyện được," Olivia thì thầm.

Charlie đi theo Olivia xuống tiền sảnh, qua một cánh cửa bên dưới hình hai chiếc mặt nạ màu vàng, một mặt cười một mặt khóc. Phòng để áo khoác tím thú vị hơn phòng để áo khoác xanh da trời. Ở đây chứa đầy nhóc các loại trang phục lạ lùng : nón cắm lông, nón kỵ sĩ, nón chóp nhọn... Trên các bức tường treo đầy hoa và mặt nạ; sàn nhà la liệt những ủng với giầy, đủ mọi kích cỡ và kiểu dáng. Olivia hất văng đôi giày tím đang mang ra, xỏ chân vô một đôi giày mềm, gót thấp, trông mộc mạc.

"Thấy cái này được không?" Nó hỏi Charlie. Charlie nhún vai.

"Đừng có làm mặt rầu rĩ vậy chớ. Chuyện đâu đến nỗi tệ lắm đâu. Tớ bị cấm túc hoài. Tớ đi thám hiểm. Tớ đã biết được bao nhiêu chuyện hay ho về chỗ này."

"Nhưng rủi không kiếm lại được áo chùng thì sao? Mình sẽ lại bị cấm túc nữa."

"Tớ nghĩ tớ biết kiếm nó ở đâu," Olivia bảo Charlie. "Lúc giải lao tớ có vô phòng giữ áo khoác của đằng ấy để tìm ba lô của tớ... mà đằng ấy đã tử tế nhặt lại giùm đấy. Còn một người duy nhất ở đó là cái anh chàng mặt dài, tóc rũ rượi. Lúc tớ bước vô là nó chạy vọt ra, coi bộ lấm la lấm lét bí mật gì đó. Nó cầm một cái áo chùng xanh ngọc bích."

"Bồ có biết tên người đó không?" Charlie hỏi.

"Gabriel gì-gì-đó," Olivia trả lời. Nếu nó đã đổi áo của đằng ấy rồi thì tốt nhất là đằng ấy cứ mặc áo của nó đã, cho tới khi đằng ấy chứng minh được cái áo kia là của đằng ấy".

"Cám ơn, Olivia!" Charlie bắt đầu cảm thấy lạc quan hơn. "Mình sẽ mặc áo vô ngay đây."

"Hẹn gặp đằng ấy vào bữa tối," Olivia chào khi Charlie phóng vù qua tiền sảnh, vô phòng để áo khoác xanh da trời.

Khi Fidelio ra khỏi lớp học tiếng Anh, nó thấy Charlie đang mặc chiếc áo chùng rách tơi tả.

"Mừng là em đã hiểu ra," Fidelio nói khẽ. "Theo anh tới căn tin xanh da trời nào."

Charlie đi theo. Căn tin xanh da trời nằm ở chót cuối sau khi băng qua mấy cái hành lang dài, và Charlie cố nhớ đường đi bằng cách nghiên cứu những hình vẽ trên các bức tường. Quan trọng nhất là phải biết xem có thể tìm ra thức ăn ở đâu. Hầu hết các bức vẽ đều là chân dung của những người đàn ông, đàn bà nom nghiêm nghị. Cứ như họ vượt thời gian quay trở lại vậy, nhìn trang phục là biết ngay họ thuộc thế kỷ nào. Nó bắt đầu nhận ra những cái họ : Raven, Silk, Yewbeam, Pike, và Bloor. Charlie vốn không giỏi môn lịch sử, nhưng nó chắc chắn những chân dung này đang dẫn dắt nó trở lại cái thời mà người ta vẽ lên tường.

Cuối cùng, chúng đi vô một căn phòng rộng rinh, ẩm thấp, bốc mùi bắp cải luộc. Trong khi xếp hàng lĩnh phần ăn của mình, Charlie kể cho Fidelio nghe về chuyến viếng thăm phòng để áo khoác xanh da trời của Olivia.

"Có một thằng trông lấm lét cầm một cái áo chùng," Charlie nói. "Olivia nói tên nó là Gabriel gì gì đó."

"Gabriel Silk," Fidelio chỉnh. "Nó học dương cầm. Anh nghĩ thằng này có phép thuật. Nó chắc chắn là loại quái dấm."

"Quái dấm?" Charlie hỏi.

Fidelio hất đầu về phía hàng học trò đã lĩnh phần ăn xong.

"Nó là cái thằng ở cuối hàng."

Charlie thấy một thằng con trai cao nhòng, gương mặt dài, tóc tai rũ rượi, màu lông chuột. Tất cả mọi thứ ở nó đều có vẻ hờ hững và lóng ngóng, kể cả hai bàn tay.

"Trông nó hình như vui vẻ hơn thường ngày," Fidelio nói. "Úi! Nhưng giờ hết vui nổi rồi."

Gabriel Silk vừa đánh rơi chồng sách mà nó cố kẹp dưới nách, giờ lại đang chật vật giữ thăng bằng dĩa đồ ăn trong khi lượm lại mấy cuốn sách rơi.

"Em thắc mắc không biết có phải đó là áo chùng của em không," Charlie nói. "Mẹ em thêu tên tắt của em đằng sau áo. Mẹ em dùng chỉ xanh lá cây vì không tìm ra sợi chỉ trắng nào."

"Tối nay tụi mình sẽ coi thử," Fidelio nói. "Chắc chắn tới lúc đó nó mới cởi áo ra."

Một cái dĩa đựng thứ gì nâu nâu và xanh lá cây được dúi vô tay Charlie, và nó đi theo Fidelio tới một cái bàn trống. Sau vài miếng, Charlie nhận ra Fidelio hình như đang thưởng thức món bắp cải trông phát ói và bỏ lại đống màu nâu.

"Anh ăn chay," Fidelio giải thích. "Họ không bao giờ cho mình xơi cái gì mà mình có thể xơi được. Anh hy vọng em thích món thịt băm của anh."

"Vậy ra đó là thịt băm à? Em ăn được. Anh ăn phần bắp cải của em đi."

Hai đứa đang đổi thịt băm với bắp cải, đúng lúc cô Chrystal - giáo viên đàn dây - đi ngang qua bàn chúng.

"Các trò biết như thế là không được phép mà," cô nói kèm theo nụ cười.

Charlie có ấn tượng rằng cô Chrystal không phải là người nghiêm khắc. Mùi bắp cải đôi lúc bị mùi nước hoa thơm phức của cô đè bẹp.

"Xin lỗi, cô Chrystal," Fidelio nói, cười ngoác đến mang tai. "Đây là Charlie Bone; trò ấy mới đến hôm nay."

"Chào, Charlie," cô Chrystal nói. "Nếu cô có thể giúp gì được cho em thì Fidelio sẽ biết kiếm cô ở đâu."

Rồi cô lại hào phóng ban một nụ cười rạng rỡ cho Fidelio và đi khỏi. Thật dễ chịu khi biết ít nhất có một giáo viên thân thiện trong Học Viện này.

Phần thời gian còn lại trong ngày trôi qua mà không có biến cố nào khó chịu. Charlie đi theo Fidelio từ phòng này tới phòng kia, ra căn tin dùng bữa trà, rồi lại ra sân chạy cuốc cuối trước khi trời tối. Nhưng khi đèn bắt đầu bật sáng toà nhà xám, cao lớn, và bầu trời đêm phủ trùm các cửa sổ, nó mới thấy nhớ nhà. Và khi đi qua những hành lang trên đường đi ăn tối, nó hình dung ra căn bếp ấm cúng ở nhà số 9 và một dĩa mì Ý đặc biệt mà ngoại Maisie vẫn làm cho nó. Nó ngoái đầu nhìn cánh cổng đôi nặng nề, cao vợi ngăn cách với thế giới bên ngoài.

"Vậy không hay đâu, Charlie," Fidelio thì thầm. "Họ sẽ không mở cửa cho đến thứ Sáu. Anh đã thử rồi."

"Lúc mới đến anh có nhớ nhà không?" Charlie hỏi.

"Có. Nhưng không lâu. Thứ Sáu tới mau thôi mà."

"Em sẽ không được về nhà vào thứ Sáu. Em bị cấm túc rồi," Charlie nói ủ rũ. "Manfred phạt em."

"Thật không tin nổi!" Fidelio rõ ràng bị sốc. "Mới ngày đầu tiên mà. Manfred chắc chắn cố ý gán tội cho em rồi."

Nhưng khi nhìn vẻ mặt bi thương của Charlie, nó vội thêm:

"Sắp có sự ngạc nhiên cho em đây. Chúng ta sẽ gặp toàn trường. Và nhà ăn lớn là một nơi anh không biết làm sao diễn tả hết cho em được."

Fidelio nói đúng. Chúng cùng nhau bước xuống những hành lang dội âm, đi về phía căn tin xanh da trời, sau đó đi thêm nữa. Giờ, chúng đang đổ dốc, từ từ, vô một cái hang khổng lồ dưới lòng đất, và Charlie thấy những đứa trẻ khoác áo chùng xanh lá cây và áo chùng màu tím nhập bọn với chúng. Cái đám con nít đông đúc đó quành vô một cầu thang rộng, rồi lại đi xuống, xuống một hành lang dài khác, cái này lại dẫn tới một sảnh đường rộng mênh mông.

"Chúng ta đang ở bên dưới thành phố," Fidelio nói. "Đây là nơi cổ nhất của toà nhà. Nơi mà người ta cho rằng các hậu duệ của Vua Đỏ đã giam giữ tù nhân của họ."

Lại Vua Đỏ.

"Vua Đỏ là ai vậy?" Charlie hỏi.

Fidelio nhún vai.

"Ông xây toà lâu đài bỏ hoang, anh chỉ biết có thế thôi. Anh nghĩ ông ấy thì OK, nhưng người ta nói có mấy đứa con của ông là một bọn thật sự hắc ám. Đi lẹ lên nào, không tụi mình trễ bây giờ."

Ở cả hai phía của ba chiếc bàn cực kỳ dài là những băng ghế đang lấp đầy dần những trẻ con là trẻ con. Áo chùng xanh da trời ngồi bên trái, áo chùng tím ở chính giữa và áo chùng xanh lá cây bên phải. Ở đầu mỗi bàn có một huynh trưởng đang múc xúp ra từ một cái liễn thép to tướng. Những đứa trẻ khác đang phân phát từng khúc bánh mì.

Phía cuối sảnh đường, trên một cái bục cao, đội ngũ giáo viên của Học viện ngồi kín cái bàn thứ tư, Bàn Danh Dự, đó là Fidelio nói cho Charlie biết. Cuối cùng, lần đầu tiên, Charlie cũng đã thoáng thấy được giáo sư Bloor. Ông ta mặc áo chùng đen như những giáo viên dạy các môn học khác ngoài ba môn nghệ thuật, nhưng không thể lẫn ông ta vào đâu được. Ông ngồi ngay chính tâm chiếc Bàn Danh Dự và đưa mắt nhìn khắp đám con nít đang líu lo, lách chách. Đó là một người đàn ông lực lưỡng, uy quyền, tóc xám và thẳng, ria mép được tỉa khéo léo.

Dưới đôi lông mày chổi xể, đôi mắt đen nhỏ của giáo sư Bloor quét khắp ba chiếc bàn dài; và Charlie ngây người ra dòm theo ánh nhìn của người đàn ông to lớn, cuối cùng mắt họ giao nhau.

Giáo sư Bloor đứng lên. Ông bước khỏi cái bục cao và bắt đầu đi xuống lối đi giữa các dãy bàn xanh da trời và bàn tím. Ông tịnh không rời mắt khỏi Charlie.

"Sao vậy?" Fidelio hích khuỷu tay Charlie. "Em không thích xúp à?"

Charlie không thể trả lời. Giáo sư Bloor đã đến chỗ nó.

"Charlie Bone!"

Đó chính là cái giọng nói nghe rợn cả xương từng thoát ra từ trang báo.

"Hân hạnh có trò ở đây."

Charlie thều thào rằng nó vui mừng được học ở Bloor, nhưng nó gần như không nhận ra mình đang nói cái gì. Theo bản năng, nó ngó chăm chăm gương mặt to đang đổ bóng xuống, và nó sững sờ, phát hiện ra rằng không những mình nghe được giọng nói từ những tấm hình, mà khi sợ hãi thì nó còn có thêm khả năng khác: nó đọc được nét mặt. Charlie thấy rằng nó đã biết, không cần hỏi ai là người đã bắt đứa con của tiến sĩ Tolly.

Ngoại Maisie luôn nói rằng gương mặt có thể nói cho ta biết rất nhiều điều về một con người. Gương mặt này bắt đầu nói cho Charlie biết nhiều hơn những gì nó muốn biết. Nó vội đóng chặt tâm trí mình lại trước gương mặt đó, một cách nhanh chóng và cương quyết.

"Có sao không vậy?" Fidelio hỏi Charlie. "Trông em như vừa nhìn thấy một con ma thế."

Charlie nhìn cái lưng rộng của giáo sư Bloor đi xa dần. Ông ta dừng lại một lần nữa, và nói chuyện với một nữ sinh áo chùng xanh lá cây. Con bé có mái tóc vàng nhợt nhạt, và khi ngước lên, nó cau mày. Charlie nhận thấy đôi mắt to màu xanh da trời của con bé có vẻ hoảng hốt và sợ sệt.

"Charlie!" Fidelio huých nó. "Cái gì thế?"

"Nhỏ kia là ai vậy?" Charlie hỏi. "Nhỏ đang nói chuyện với giáo sư Bloor ấy."

"Emilia Moon," Fidelio nói. "Nó học hội họa. Môn ấy nó khá đấy. Trứng với khoai tây chiên ra rồi kìa, tốt nhất em ăn cho hết xúp đi, không thì sẽ không được nhận thêm gì đâu. Luật lệ đấy."

Charlie lùa vội muỗng xúp cuối cùng vô miệng, ngay khi một dĩa trứng và khoai tây chiên được chuyền tới chỗ nó. Nó chuyền cái tô trống không theo hàng về tận cuối bàn, nơi Billy Raven đang xếp thành từng chồng.

Emilia không đụng tới món xúp. Con bé nhăn nhó với tô xúp như thể không hiểu tại sao từ đâu lại chui ra cái món xúp này. Charlie cảm thấy mình nên báo cho Emilia biết là đã có món trứng và khoai tây chiên, nhưng con bé ở quá xa.

"Tụi mình có bánh pút đinh tráng miệng không?" Nó hỏi Fidelio một cách hy vọng.

"Em giỡn chắc. May lắm thì có được một trái táo," Fidelio nói. "Hoặc một trái lê."

Và chúng đã may mắn. Một trái lê trôi tới trước mặt Charlie, ngay sau món trứng và khoai tây chiên.

Khi bữa tối chấm dứt và những chiếc dĩa cuối cùng đã được xếp ngay ngắn, giáo sư Bloor tiến lên cái bục cao và vỗ vỗ tay. Im lặng bao trùm tức khắc.

"Tôi có một thông báo," giáo sư nói nghiêm trang. "Một cậu trai mới tới để nhập vô hàng ngũ những người được ban phép thuật. Charlie Bone, đứng lên."

Nóng ra cả người, Charlie đứng dậy. Hơn ba trăm cặp mắt quay về phía nó, đầu gối bắt đầu va lập cập vô nhau.

"Charlie!"

Giáo sư đọc to tên nó mà nghe như thể cái tên ấy là một sai lầm ghê ghớm.

"Sau bữa tối chúng ta có hai giờ bài tập về nhà. Những đứa trẻ có phép thuật sẽ học trong phòng Nhà Vua."

Ông dừng lại vài giây, nhìn quanh đám trẻ im thin thít và bất động. Và rồi, bằng giọng ầm ầm như sấm khiến Charlie giật thót lên, ông ra lệnh:

"Giải tán!"

"Phòng Nhà Vua ở đâu?" Charlie rối rít hỏi, khi Fidelio đứng lên khỏi băng ghế.

"Đi theo Gabriel ấy," Fidelio khuyên. "Hoặc Billy Raven cũng được... bám theo nó thì dễ hơn. Anh phải đi đây, Charlie. Ba phút nữa tụi anh phải có mặt trong lớp rồi. Gặp lại tối nay!"

Fidelio lướt đi, hòa vô dòng áo chùng đủ màu sắc đang dồn ứ về phía cuối nhà ăn tối. Charlie nháu nhàu tìm cái đầu trắng của Billy Raven. Nhưng thằng bé bạch tạng bé xíu này bị chìm lỉm trong khối trẻ con chen lấn xô đẩy nhau. Cuối cùng Charlie cũng phát hiện ra thằng bé. Nó đang thành thạo rẽ đường luồn lách giữa mấy bọn khác, phải mất một hồi Charlie mới đuổi kịp nó.

"Chào em!" Charlie nói, túm được vạt áo chùng của Billy. "Cho anh đi cùng với nhé? Anh không biết phòng Nhà Vua ở đâu."

"Ít người biết lắm," Billy nói, cười toét. "Muốn nhớ được đường tới đó cũng phải mất một lúc kìa. Nhưng em sẽ là hướng dẫn viên cho anh, miễn là anh muốn vậy."

Charlie chưa kịp lầm thầm một lời cám ơn thì Billy đã ào đi. Trước tiên tới dãy ngăn tủ để lấy tập và viết, sau đó trở lại tiền sảnh, xuống một lối đi, quẹo một khúc quanh, và leo lên một cầu thang. Cuối cùng chúng tới cánh cửa đôi cao vời, sơn đen. Billy đẩy một cánh cửa ra và chúng bước vô một căn phòng lạ lùng, hình tròn. Có mười đứa trẻ đang ngồi quây quanh một chiếc bàn tròn.

CHƯƠNG X
BÍ MẬT TRONG TỦ TƯỜNG


Charlie thức dậy, cổ họng khô khốc, mắt cay xè. Nó chỉ ngủ được có một tiếng. Nó miễn cưỡng mặc vào chiếc áo chùng rách nát thê thảm của Gabriel. Xét cho cùng thì cái áo đó cũng không gây ác mộng gì cho nó.

Gabriel và Fidelio chờ trong lúc Charlie đánh vật với mái tóc như hàng rào của nó, nhưng sau năm phút cả hai đều nhất trí rằng việc chải đầu của Charlie chẳng có mấy tác dụng.

“Nếu không đi sớm thì sẽ chỉ còn mấy rẻo thịt xông khói cháy thôi đấy,” Fidelio cảnh báo.

Charlie đói cồn cào. Nó vứt toẹt cái lược xuống và tất tả đi ăn sáng cùng bọn bạn. Nó vui mừng vì có một lũ đồng hành, bởi vì xem ra nó sẽ chẳng bao giờ mò ra được đường xuống dưới tầng trệt nếu không có chúng.

Gabriel vô cùng hạnh phúc được mặc áo chùng của Charlie, trông nó như một người khác hẳn. Nói đúng ra, nó cười suốt, chân bước thoăn thoắt. Giờ thì nó đã vứt bỏ được những cảm giác hãi hùng, chết khiếp kia.

Bữa điểm tâm gồm bột yến mạch, thịt xông khói bị cháy và một ca trà.

“Ngày nào tụi mình cũng ăn uống thế này à?” Charlie hỏi, cố nuốt một bụm yến mạch.

“Ngày nào cũng vậy,” Fidelio xác nhận.

Charlie cố không nghĩ đến những bữa điểm tâm dồi dào của ngoại Maisie.

Ngày thứ hai của nó ở học viện không đến nỗi tệ như ngày đầu tiên. Với sự giúp đỡ của Fidelio, và đôi khi của Gabriel, Charlie đã có thể tìm ra tất cả các phòng học. Vào ngày thứ ba, thậm chí nó còn một mình mò được đường ra vườn.

Thứ Sáu đã tới. Là cái ngày Charlie sợ chết khiếp. Khi các tiết học chấm dứt, nó ngồi trên giường và nhìn Fidelio thu dọn đồ đạc.

“Sẽ có chuyện gì đây, khi mọi người đã về nhà cả?” Charlie hỏi.

“Coi như em bị bỏ lại một mình,” Fidelio đáp. “Không việc gì phải lo cả. Dĩ nhiên, với thằng Manfred thì cũng phải lo một chút, nhưng không phải chỉ có mình em. Nên nhớ là Olivia cũng bị cấm túc, còn Billy Raven thì không bao giờ về nhà, vì nó không có nhà. Anh sẽ tới gặp Benjamin để lấy cái thùng mà em nhờ anh giấu. Sau đó vào lúc... để coi nào... 11 giờ rưỡi thứ bảy, anh sẽ tới và vẫy tay làm ám hiệu cho em. Nếu tụi này xoay sở xong vụ chuyển cái thùng, anh sẽ giơ hai ngón cái lên.”

Charlie đã có lúc muốn nói với Fidelio về đứa bé, nhưng bây giờ thì không phải lúc.

“Em sẽ gặp anh bằng cách nào?” nó rầu rĩ hỏi.

“Cứ đến tháp nhạc. Olivia sẽ chỉ cho em. Anh sẽ vẫy tay lên ô cửa sổ nhìn ra đường trên tầng hai, lúc đó em chỉ còn bốn tiếng nữa là được ra ngoài rồi.”

Charlie thở dài.

“Tươi tỉnh lên nào!” Fidelio vỗ vai Charlie rồi cầm túi xách lên.

Charlie theo Fidelio xuống lầu và nhìn bạn vung vẩy túi xách đi về phía hai cánh cửa cao bằng gỗ sồi. Cổng bây giờ đang để mở, và bọn trẻ ùa ra, hăm hở đón một kỳ nghỉ cuối tuần tự do.

Fidelio quay lại và vẫy chào thật nhanh. Nó gần như là đứa cuối cùng rời trường. Chợt một ham muốn mãnh liệt thôi thúc Charlie liều phóng ra ngoài trước khi cánh cửa đóng lại. Nó tiến lên vài bước, liếc quanh thật lẹ, và tăng tốc.

“Thôi đi, Bone!”

Charlie quay ngoắt lại. Manfred Bloor đang đứng trong một hốc tối ở quãng giữa hành lang.

“Mày tưởng không ai trông thấy mày chắc?”

“Em không tưởng gì hết,” Charlie đáp.

“Đem bài tập của mày vào phòng Nhà Vua và ở đó làm cho đến khi nghe chuông báo bữa tối.”

Trong lúc Manfred nói, hai cánh cửa đồ sộ đóng lại, và giọng nói của nó dội ông ổng trong cái sảnh trống trơn.

“OK,” Charlie làu bàu.

“Phải nói là ‘Thưa vâng, anh Manfred’chớ, không có cái kiểu ‘OK’ như vậy.”

“Vâng, anh Manfred.”

Charlie tìm thấy Olivia và Billy đang tán gẫu trong thư viện.

“Tụi mình không cần phải im lặng khi không có Manfred ở đây,” Billy vui vẻ nói.

Charlie tự hỏi làm sao Billy có thể sống sót nổi - bị giam hãm trong Học viện Bloor hết tuần này đến tuần kia, một thân một mình trong phòng ngủ chung tối tăm khi ai nấy đã về nhà hết.

“Em có bao giờ ra khỏi đây chưa?” nó hỏi Billy.

“Em có một bà dì sống bên bờ biển, cho nên kỳ nghỉ em hay về đó,” Billy nói. “Em không cô đơn vì có...” nó ngập ngừng, gần như khều khào trong cổ họng, “... luôn có những con vật.”

“Con gì hả?” Olivia hỏi. “Tớ chả thấy có con vật nào cả.”

“Bà bếp trưởng có một con chó,” Billy nói. “Nó già lắm rồi nhưng rất dễ chịu; ngoài ra còn có... chuột... và những con khác nữa.”

“Nhưng không thể nói chuyện với một con chuột được,” Charlie nói.

Billy im lặng. Nó cúi gằm xuống quyển sách và bắt đầu đọc. Hai tròng kính khiến cho mắt nó trông như hai bóng đèn đỏ,to thô lố.

Đột nhiên, nó thì thào, “Thực ra em nói được.”

“Nói được gì cơ?” Olivia hỏi.

Billy hắng giọng. “Nói được với chuột.”

“Thật không?” Olivia gấp sách lại. “Hay quá! Đó là món của đằng ấy đó hả? À, ý là phép thuật của đằng ấy đó hả?”

Billy gật đầu.

“Tức là em có thể hiểu được chúng?” Charlie hỏi.

Chậm rãi và nghiêm nghị, Billy lại gật đầu.

Charlie huýt gió khe khẽ. Bấy lâu nay Benjamin vẫn hay nói rằng nó ao ước có ngày nghe được con Hạt Đậu nói gì.

“Em có thể tới nói chuyện với con chó của bạn anh được không?” Charlie ướm hỏi Billy.

Billy không đáp, chỉ đăm đăm nhìn Charlie, mặt thộn ra.

“Có lẽ đề nghị này ngớ ngẩn thật,” Charlie nói. “Xin lỗi, lẽ ra anh không nên hỏi.”

“Anh chị làm ơn đừng nói với ai nhé. Không phải con vật nào em cũng nói chuyện được. Động vật có rất nhiều ngôn ngữ. Lắng nghe bọn chúng mệt lắm.”

Charlie và Olivia thề thốt rằng tụi nó sẽ không hé răng với ai về chuyện này. Bọn chúng lại quay về với đống sách vở, nhưng một lúc sau, Charlie nhận ra là Billy không làm bài tập hay đọc sách gì cả, chỉ chằm chằm nhìn vào khoảng không.

“Em có thể nói với anh chị điều này được không?”

Cả Charlie lẫn Olivia đồng loạt nói, “Được chứ.”

“Chuyện này xảy ra cách đây một tuần. Em đang trên đường ra vườn sau bữa trà thì nghe tiếng Manfred đang nói chuyện với ai đó. Em không biết đó là ai, nhưng em nghe có tiếng con gái khóc trong phòng huynh trưởng.”

“Không phải tớ đâu đấy,” Olivia nói ngay.

“Đúng là không phải chị,” Billy thừa nhận. “Nhưng mà là con gái, như em nói rồi đấy, và người ấy đang khóc, thế nên em mới biết rằng có người đang gặp rắc rối to. Em liền đi chậm lại để nghe ngóng, nhưng Manfred thình lình phóng ra, tống cho em một quả lộn nhào. Anh ta chửi em là đồ đui mù, ngu xuẩn và đủ thứ kinh khủng khác nữa, cho nên em phải tức tốc ra vườn ngay.”

“Rồi đằng ấy có bị làm sao không?” Olivia hỏi dồn.

“Chân em bị đau,” Billy nói. “Vì vậy, em phải đi chậm. Đang khập khiễng đi xuống hành lang thì em nghe có tiếng mèo. Có ba con cả thảy. Bọn nó nói với em, ‘Mở cửa cho chúng tôi vô. Nhanh lên, Billy. Tới cánh cửa trong toà tháp ấy’.”

“Tháp nào?” Charlie hỏi. “Có hai cái tháp.”

“Em đoán đó là cái tháp nhạc. Vì tháp kia không có cửa. Em sợ bị Manfred trông thấy, nhưng em không thể làm lơ tiếng nói của lũ mèo. Em vừa lết vừa chạy cho đến khi tới được ngọn tháp. Em băng qua căn phòng trống ở tầng trệt, và khi tới cửa em chỉ việc mở chốt ra cho lũ mèo vô.”

Charlie biết Billy sẽ nói gì tiếp, nhưng nó không cắt ngang.

“Đó là mấy con mèo rất kỳ lạ.” Đôi đồng tử màu hồng ngọc của Billy vốn đã to giờ còn giãn nở to hơn. “Trông chúng nó giống như những ngọn lửa, đỏ, cam và vàng. Chúng cám ơn em, rất lịch sự, rồi bảo với em rằng Vua Đỏ phái chúng tới.”

“Nhưng ông ấy đã chết từ hàng trăm năm rồi mà,” Olivia ngạc nhiên.

“Em cũng hỏi lũ mèo về điều đó, nhưng chúng nó chỉ nhìn em rất tức cười, xong nói ‘Tất nhiên’, rồi chạy thẳng về phía cầu thang. Ngay trước khi biến mất, con mèo đỏ nói ‘Để cửa đó, Billy!’, và em làm theo. Em vọt ra vườn thiệt nhanh, nhưng em chỉ ở đó được một vài phút thì có chuông báo cháy. Phòng của Manfred bị cháy, và Manfred đang ở trong đó.”

“Thì ra là lũ mèo,” Charlie thở gấp gáp.

“Chắc là chúng đã hất đổ một cây nến,” Olivia nói. “Thằng Manfred luôn luôn thắp nến ở trong phòng. Đứng bên ngoài có thể nhìn thấy ánh nến dập dờn trong phòng nó.”

“Họ có tìm ra ai đã cho lũ mèo vô không?” Charlie hỏi.

“Họ nghĩ đó là thầy Pilgrim,” Billy nói, “vì thầy luôn ở trong tháp nhạc.”

“Vậy là ông ấy bị khiển trách rồi!” Olivia nói.

“Giáo viên không bị khiển trách đâu,” Billy lẩm bẩm. “Phải không?”

Chưa ai kịp trả lời nó, thì từ ngoài cửa vọng lên một tiếng quát, “Im lặng trong phòng Nhà Vua.”

Olivia đeo một bộ mặt cộc cằn hướng về phía cánh cửa. Charlie cố nín cười. Billy cau mày lo lắng và quay lại với đống bài tập về nhà của mình.

Cuối cùng, khi chuông báo bữa tối reng lên, bụng Charlie sôi ùng ục. Dường như mấy ngày nay nó luôn luôn cảm thấy đói.

Chúng cùng xuống sảnh đường ăn tối, nhưng ngay trước khi cả bọn bước vô, Olivia cảnh báo Charlie rằng chúng sẽ phải ngồi ăn chung bàn với Manfred. Tim Charlie chợt thắt lại. Nãy giờ nó mong ngóng cho tới giờ ăn tối, nhưng làm sao có thể tận hưởng bữa tối khi luôn phải cố tránh cái nhìn gườm gườm của Manfred?

“Nó đã khi nào... thôi miên bồ chưa?” Charlie hỏi Olivia.

“Chưa. Nó không quan tâm tới tớ. Ý tớ là tớ chẳng có phép thuật gì hết, cho nên chẳng có gì đe dọa nó cả. Tớ chỉ làm nó cáu thôi.”

“Nó không thôi miên được em,” Billy nói một cách nghiêm trang với hai đứa kia. “Tại mắt em. Nó không thể nào vượt qua được.” Billy cười đầy mãn nguyện.

Sảnh đường ăn tối rộng mênh mông và dội âm. Những bước chân của bọn trẻ nện vang vào sự thinh lặng bí hiểm, khi chúng đi ngang qua những băng ghế trống trơn để tới chiếc bàn có Manfred đang ngồi, trừng trừng nhìn vào một cây nến. Có hai chỗ bên phải và một chỗ bên trái hắn đã được sắp sẵn. Charlie chui ngay vào ghế bên phải, cách xa Manfred nhất.

Hầu hết giáo viên đã về nhà, nhưng giáo sư Bloor, và cả giáo sư Saltweather, vẫn ở lại. Thầy Pilgrim, ngồi hơi tách biệt những người khác một chút; một cái nhíu mày nhẹ thoáng qua trên gương mặt thầy khi lũ trẻ tiến đến gần, còn đâu như thể thầy không trông thấy bọn chúng.

Charlie nghĩ đây là một trong những bữa tối tệ hại nhất mà nó từng ăn. Tệ hơn nữa, ngoài việc phải cố tránh nhìn vào Manfred, thì cái thằng già này còn không cho chúng nói chuyện với nhau.

“Bọn bay đừng có mong đã cấm túc mà lại còn tận hưởng” Manfred nói, giọng cay nghiệt.

Vì thế trong khi chúng ăn, chẳng hề có tiếng trò chuyện để át đi tiếng cắn, tiếng nhai, tiếng uống nước và tiếng nuốt... tiếp nối nhau.

Cuối bữa ăn, khi tất cả dĩa đã được vét sạch và xếp chồng, mấy đứa tranh nhau ra khỏi nhà ăn càng lặng lẽ càng tốt. Nhưng khi cửa vừa sập lại sau lưng, Olivia nói liền, “Tụi mình có hai tiếng đồng hồ trước khi ngủ. Bắt đầu thám hiểm ở đâu đây?”

Charlie và Billy không có ý kiến gì, thế nên Olivia đề nghị tháp Da Vinci. Charlie muốn biết tên tháp có nguồn gốc từ đâu, nhưng Olivia nhún vai và nói, “Người ta vẫn gọi nó như vậy. Tớ nghĩ hồi trước khoa hội hoạ vẫn dùng căn phòng ở tầng thượng, nhưng bây giờ nó bỏ không. Có người nói với tớ là nó không an toàn. Bên trong mục nát rệu rã rồi.”

Charlie tự hỏi mắc gì chúng lại đi khám phá một toà nhà không an toàn và dễ sụp, nhưng nó không muốn tỏ ra lo lắng. Ngoài ra, Olivia đã quyết định rồi. Con nhỏ chìa cho chúng xem cây đèn pin giấu bên trong túi áo chùng, giải thích là có thể trong tháp sẽ không có đèn.

Chúng phải mất nửa giờ mới tìm ra một lối có khả năng sẽ dẫn đến tháp Da Vinci. Có một cánh cửa nhỏ xíu ở mút một hành lang trên lầu ba.

“Cùng tầng với phòng ngủ chung của tớ,” Olivia bảo cả bọn. “Vì thế nếu bị bắt ở đây thì tụi mình sẽ có cớ để giải thích.”

Cánh cửa đã chốt, nhưng ngạc nhiên thay, không khoá. Olivia đẩy những cái chốt ra, chúng cứng và rỉ sét.

“Nhiều năm rồi không ai ở đây,” Charlie quan sát.

“Chính xác. Càng thêm thú vị chứ sao.” mắt Olivia sáng long lanh. “Lẹ lẹ lên!”

Cánh cửa kêu kin kít khi cô nàng kéo nó ra. Một hành lang tối tăm uốn cong hiện ra và biến mất ở một góc quẹo mạng nhện giăng xám xịt. Không thấy công tắc, cũng chẳng thấy đèn dầu hay bóng đèn điện đâu cả.

Chúng nhẹ nhàng lách qua cửa, và thấy mình bước đi trên những miếng ván lót sàn rộng, đóng bụi dày đặc. Mùi những thứ ẩm ướt, mục nát phả ra từ những ngóc ngách tối tăm.

“Tụi mình nên đóng cửa lại,” Charlie nói, hơi dè dặt.

“Phải đóng sao?” Billy hỏi.

Olivia bật đèn pin cái tách, và một luồng sáng mạnh mẽ toả trọn lối đi trước mặt chúng. “Không sao đâu, Billy” con bé vỗ về.

Khi Charlie đóng cửa thì có cái gì đó làm cửa dính lại, nó nhìn xuống xem đó là cái gì thì chợt chú ý đến đôi giày của Olivia. Cô nàng đang “diện” đôi giày đen bằng loại da cứng, bóng lộn, gót cao chót vót. Charlie hy vọng chúng sẽ không gặp quá nhiều cầu thang cũ.

Ấy thế mà, ngay khi vượt qua cái góc mạng nhện, thứ đầu tiên chúng gặp phải là một cầu thang cũ mèm. Đó là con đường độc đạo để ra khỏi hành lang này. Chúng chỉ còn cách leo lên một cầu thang xoắn ốc, dốc đứng, hoặc là leo xuống những bậc thang bằng đá hẹp veo.

“Tụi mình leo lên đi,” Billy nài nỉ. “Dưới đó thấy ghê quá.”

“Nhưng coi bộ hấp dẫn,” Olivia thì thào. Nó rọi đèn pin vào cái lỗ tối om phía dưới. Xem ra cái lỗ không có đáy.

“Lên chớ đừng xuống!” Charlie nói, lưu ý đến vẻ lo lắng của Billy. Nó nhớ là Billy không thể nhìn rõ. “Để anh đi trước cho, Billy, em đi ngay sau anh, còn Olivia đi sau cùng. Thế là an toàn nhất.”

Billy trông có vẻ bớt sợ đi, còn Olivia vui vẻ đồng ý. “Đằng ấy sẽ cần đèn pin nếu đằng ấy đi trước,” nó vừa nói vừa đưa cái đèn cho Charlie.

Những bậc thang xoắn ốc hẹp tí rị và gập ghềnh. Thực tình, Charlie phải bò lên. Nó nghe tiếng Billy hồi hộp thở hì hụi sau lưng, và tiếng giày của Olivia thỉnh thoảng cà rột rột lên nền đá lở.

Bất thình lình, có một tiếng lóc cóc, vài tiếng lăn thông thốc, rồi một tiếng rú dội vang, và sau đó là một sự im lặng ghê người. Chuyện xảy ra hẳn đã quá rõ rồi.

“Anh có nghĩ là chị ấy chết rồi không?” Billy thều thào.

Tiếng rên lại nổi lên, như vậy ít nhất thì câu hỏi đã được trả lời. Có điều Olivia bị thương nặng đến cỡ nào?

“Tụi mình sẽ phải xuống thôi, Billy à,” Charlie nói. “Em có xuống được không?”

“Được,” Billy nói, không chắc lắm.

Thật chậm và thật cẩn thận, chúng dò dẫm tìm lại các bậc thang. Tiếng rên rỉ bắt đầu yếu dần và Charlie gọi to, “Bám chặt vào, Olivia. Tụi này đang xuống đây.”

Chúng đã xuống đến chiếu nghỉ nhỏ, trước khi những bậc thang bằng đá ẩn chìm vào màn đen.

“Để anh đi trước,” Charlie đề nghị. “Em có muốn đợi ở đây không, Billy?”

“Không. Một mình thì không.” Billy cuống quít bám theo Charlie.

Cầu thang gồ ghề bắt đầu uốn cong và Charlie rọi đèn pin xuống, thấy Olivia ở dưới sàn, rúm ró dựa vào một cánh cửa kiểu cổ.

“Bồ OK chớ?” là câu hỏi đầu tiên của Charlie.

“Dĩ nhiên là không rồi. Hai đầu gối tớ bị thương, đầu tớ bị đập mạnh. Hồi nãy tại tớ không thấy đường đi, phải không?”

Charlie không muốn đề cập đến đôi giày cao gót của Olivia. “Tụi này kéo bồ lên nhe? Bồ có đứng dậy được không?”

“Để tớ ráng coi” Olivia chộp nắm cửa phía trên đầu và từ từ đu người đứng lên. Ắt hẳn cô nàng phải tì mạnh lắm vô cánh cửa, bởi vì, một tiếng rắc đột ngột vang lên và cánh cửa cũ kỹ đổ ập vào trong, mang theo Olivia treo bên trên.

“Í í í í iiiiiiiiii!” Olivia thét lên, kinh hoàng.

Không thể bảo Olivia phải im lặng lúc này được. Charlie vội vàng bò theo sau cô nàng. Khi dẫm lên cánh cửa bị sập, với ánh đèn pin rọi vào căn phòng bên kia, Charlie trông thấy một thứ gì đó rất lạ thường, và trong tích tắc, nó phải lờ phắt Olivia để chĩa đèn pin xa hơn vào căn phòng.

“Chao!” nó thốt lên. “Thật kỳ lạ.”

“Gì vậy?” Olivia lồm cồm bò dậy. Giờ thì nó cũng đã nhìn thấy vật ấy.

Căn phòng chứa đầy áo giáp, hay đúng hơn, những mảnh áo giáp. Ngoài ra còn có những hình thù bằng kim loại. Chúng vạ vật trên bàn và trên ghế; chúng nằm bừa bãi dưới sàn nhà và treo lủng lẳng trên tường. Những chiếc đầu lâu thép sáng loáng, với những hố mắt lõm sâu và cái miệng nhe ra thật ghê rợn; những ngón tay bằng thép để trong những chiếc thùng; những bàn chân kim loại thò ra khỏi tủ ngăn kéo; những cánh tay, cẳng chân, xương sườn và cùi chỏ bằng kim loại, tất cả chất thành đống hỗn độn dưới sàn nhà. Gớm nhất là những bộ xương treo đong đưa từ trên trần nhà xuống.

“Ái chà!” Olivia nói. “Trông như xưởng của Frankenstein vậy.”

Billy, nãy giờ đứng nép mình giữa hai đứa kia, hỏi, “Frankenstein là ai vậy?”

“Một bác sĩ làm ra một con quái vật từ một người chết.” Olivia giải thích cho nó.

“Từ những mẩu xác chết chứ,” Charlie đính chính.

Olivia níu lấy cánh tay nó. “Em có nghe thấy chứ?”

Charlie vừa định hỏi xem Olivia nghe thấy cái gì, thì chợt có tiếng những bước chân lộp cộp, thấp thoáng đang tiến đến gần. Những bước chân không vọng tới từ cầu thang đá sau lưng chúng, mà từ một cánh cửa ở phía cuối căn phòng.

“Nhanh!” Olivia đẩy cả hai thằng con trai khỏi cánh cửa sập, vào một cái tủ tường đang mở he hé. Ngay khi chúng vừa vào bên trong, Olivia liền kéo cửa đóng lại, trước khi chúng kịp liếc thấy những thứ trong tủ.

Cả Olivia lẫn Charlie đều đưa tay bụm chặt miệng Billy lại. Dù gì thì nó cũng còn nhỏ hơn chúng nhiều, mà trong tủ lại chứa đầy những bộ xương.

Charlie tắt đèn pin đúng lúc có ai đó bước vào phòng. Đèn bật lên. Ánh đèn chiếu qua những kẽ lá sách của cánh cửa tủ, và thân mình bọn trẻ được ánh sáng tô như ngựa vằn, với những sọc sáng, tối xen kẽ. Olivia ráng nhịn cười. Nheo mắt nhìn qua một khe hở, Charlie thấy giáo sư Bloor đang di chuyển giữa đống áo giáp và những hình thù kim loại.

Bây giờ các hình thù đã dễ nhìn hơn, và Charlie nhận ra một số là động vật – chó, mèo và có cả một con thỏ. Chúng là của tiến sĩ Tolly, nó nghĩ thế. Nhưng làm cách nào mà cuối cùng chúng lại tụ về đây, trong một căn phòng bí mật ở Học viện Bloor? Chúng được mua, được cho, hay bị ăn cắp?

Người đàn ông cao lớn đi đi lại lại. Ông ta bắt đầu đi về hướng cái tủ tường. Khi đi ngang qua một con chó kim loại, ông ta nhặt nó lên và giật mạnh cái đuôi. Ông ta đập mạnh thân con chó vào cái bàn. Con chó vỡ tan tành và một đống bánh xe, răng cưa, lò xo và đinh vít đổ ào ra. Giáo sư Bloor chăm chú nhìn đống đồ sáng loáng đó, gầm gừ, và rồi vung tay xô chúng xuống khỏi bàn. Rõ ràng ông ta đang lục tìm cái gì đó và nổi giận vì không tìm ra. Ông ta lại nhắm tới cái tủ và quả quyết đi về phía đó.

Ba đứa gần như không dám thở. Olivia, Charlie và Billy bấu chặt tay vào nhau. Những móng tay dài của Olivia cắm sâu vào lòng bàn tay Charlie, và nó sắp sửa thét lên thì cửa bật mở, với một tiếng két thật to, và một giọng nói vang lên:

“Biết ngay là sẽ tìm thấy ba ở đây.”

Chương 11
Những manh mối sau cùng


Cánh cửa đó đổ rồi,” giáo sư Bloor nói.

“Hả? Chắc có đứa nào quậy phá?

“Ta không nghĩ vậy. Chỉ tại ẩm mục và cũ nát quá thôi.”

“Hừmm. Con nghi lắm,” cái giọng quen quen nói.

“Tất cả cái đống mà Tolly gửi cho chúng ta...” Giáo sư Bloor đá một cánh tay kim loại khiến nó lăng lông lốc về phía tủ tường. “Toàn đồ dởm! Còn cái thật đang ở đâu?”

“Con đã nói rồi mà ba! Mụ Ingledew đưa nó cho thằng Charlie Bone rồi.”

“Sao con chắc vậy đuợc!”

Nắm tay Olivia đã nới lỏng ra, và Charlie có thể rút bàn tay khỏi những móng tay làm nó đau đớn nãy giờ. Billy, tạm thời quên béng bộ xuơng treo sau lưng, giờ đang hé mắt nhìn qua khe lớn nhất trên cánh cửa. “Manfred đấy,” nó thì thầm.

Charlie cũng đã nhận ra tiếng nói. “Suỵt!” nó khe khẽ. “Nghe nào.”

“Con chắc mà, ba,” Manfred nhấn mạnh. “Asa vẫn đang theo dõi. Nó thấy Charlie ra khỏi nhà mụ Ingledew với một cái bao lớn màu đen. Mụ không đưa cho nó thì con đưa cho ai nữa?”

Giáo sư Bloor ậm ừ rồi thả mình xuống một chiếc ghế trông có vẻ rất cổ. Bụi bốc lên mịt mù chung quanh khi ông ta ngả người xuống miếng đệm da rách toạc. “Ta không hiểu tại sao thằng nhóc lại biết chỗ mà đến. Làm sao nó lại biết cái đó đang ở nhà mụ Ingledew.”

“Đó là do mấy con mèo, chắc chắn,” Manfred nói. “Ba biết bọn chúng vẫn làm gì mà - hất đổ đồ trên bàn, đánh lạc hướng người ta. Dĩ nhiên là nếu thằng nhóc có đuợc tấm hình, thì sau đó thể nào nó cũng mò đến nhà mụ Ingledew để trả lại. Cho nên con dám cá với ba là một trong mấy con ôn mèo đó đã lẻn vô tiệm hình Kwik khi người ta đang cho hình vô bao. Chỉ cần một giây lơ đãng là ... úup... lộn hình, lộn phòng bì”

“Ta sẽ lột da sống mấy con thú đó nếu tóm được chúng!” Giáo sư Bloor đấm thành ghế, và một đám bụi nữa tung lên, xoáy tít. “Chỉ cái mùi chúng để lại thôi đã khiến ta muốn bệnh rồi.”

“Mùi lưu huỳnh,” Manfred nói.

“Già khú nữa,” giáo sư Bloor nói. “Chín trăm năm lén lút và chõ mũi vào công việc của người khác.”

“Cả ăn cắp và đốt nhà,” Manfred tiếp lời.

Trong bóng tối của rùng rợn của tủ tường, ba đứa trẻ há hốc miệng thở, nhìn nhau. “Chín trăm năm,” Olivia mấp máy.

Billy lắc đầu không tin. Charlie nhíu mày và nhún vai. Tại sao không? Nó nghĩ. Có nhiều chuyện còn kỳ lạ hơn thế đang diễn ra hằng ngày, ở đây.

“Lại nói đến vụ hoả hoạn,” giáo sư Bloor lẩm bẩm. “Liệu có chắc là do bọn mèo đó hay không?”

“Con đã nói vớii ba rồi, con thấy tụi nó dưới cửa sổ phòng con lúc con đang cố dập lửa.”

“Và con nghĩ là đứa con gái cũng có liên quan đến việc này à?”

“Tất nhiên. Con đã nện cho nó một trận ra trò.”

“Con không nên làm như thế, Manfred,” giáo sư Bloor nghiêm mặt nói. “Chẳng ích gì đâu.”

“Lúc ấy con mất bình tĩnh. Con phát điên lên khi nó không đáp trả. Nó đang dần tỉnh ra, ba biết không. Con không thể giữ cho nó mê lâu hơn nữa.” Manfred thở dài một cách thiếu kiên nhẫn. “Làm như con không có đủ việc để làm hay sao ấy, lại còn phải để mắt đến lão Pilgrim.”

“Thế cái vấn đề cỏn con đó ra sao rồi?”

“Con không chắc. Có thể là do con tưởng tượng, nhưng con nghĩ lão ấy đã thay đổi kể từ khi thằng nhóc đó tới đây. Lẽ ra chúng ta không nên mang nó vô trường”

“Việc chẳng đặng đừng mà, Manfred. Không thể để thằng bé đó ở ngoài một khi chúng ta biết nó có phép thuật.”

“Con hiểu, con hiểu.”

Trong tủ, Olivia nhăn nhó chỉ vào Charlie, thì thào, “Là đằng ấy đấy”

Charlie lại nhúng vai. Giáo sư Bloor và thằng con trai nham hiểm của lão nói về chuyện gì vậy? Cô bé đang tỉnh ra là ai? Tại sao Manfred lại phải canh chừng thầy Pilgrim? Charlie chăm chú lắng nghe, hầu tìm ra manh mối.

Nhưng Manfred và ba nó hình như sắp đi khỏi. Đang có vẻ như Charlie sẽ không biết được gì thêm về nó hay về con bé sắp tỉnh dậy kia, thì bỗng nhiên, ngay trước khi rời khỏi phòng, Manfred nói, “Cũng không còn lâu nữa đâu, Asa theo rất sát. Nó tin chắc là cái thằng hay đi với con chó đang giấu cái vật ấy. Chúng ta chỉ việc dụ cho ba má nó tránh ra là sẽ lấy được.”

“Manfred,” giọng giáo sư Bloor giờ đã xa, nhưng vẫn có thể nghe rõ lời. “Phải hủy cái vật ấy trước khi nó đánh thức con bé.”

Ánh đèn trong phòng vụt tắt và cánh cửa khép lại.

Trong vài giây, ba đứa trẻ vẫn im thin thít. Khi chắc chắn chỉ còn có bọn này với nhau, Olivia nói “Chà, thú vị quá hả?”

“Chúng mình ra khỏi đây mau,” Charile nói. “Mình có nhiều thứ để kể cho hai người.”

Billy là đứa đầu tiên chui ra khỏi tủ tường. Nó chạy ù qua cánh cửa sập và leo lẹ lên những bậc thang lở, trước khi cả hai đứa kia phủi bụi trên người xong.

Đáng lý ra chúng không cần phải mất công phủi bụi làm gì, bởi vì, đến khi bò ra khỏi tháp Da Vinci, thì cả ba chúng nó một lần nữa lại dính đầy mạng nhện. Olivia bị sưng vù ở mắt cá, đầu gối bầm tím và có vài vết rách, nhưng cô nàng không muốn làm ầm lên. Charlie cảm kích quá, nó bảo, “Mình nghĩ bồ nên đến gặp bà giám thị. Nhỡ may trong đám bụi bẩn ấy có thứ gì gớm ghiếc thì sao, bồ biết đó, một con rệp cổ hay một thứ gì đó chẳng hạn.”

“Giám thị ấy hả? Bà đó hung dữ như con rồng vậy,” Olivia nói. “Chắc chắn bà ấy sẽ tọc mạch hỏi xem tớ đã làm gì. Tớ sẽ giấu đầu gối dưới lớp quần thun bó, để ngày mai về mẹ tớ sẽ lo liệu.”

Billy nhắc Charlie về điều Charlie lúc nãy muốn nói với cả bọn.

“Yên chí, anh nói đây,” Charlie bảo. “Theo toàn bộ những gì mà Manfred và giáo sư Bloỏ nói với nhau...ờ...thì mọi việc đã xảy ra đều có đầu đuôi cả.”

avatar
HD
Mem có nhiều đóng góp
Mem có nhiều đóng góp

Tổng số bài gửi : 268
Thành tích : 125397
Điểm cộng từ admin : 64
Join date : 11/02/2011
Age : 22
Đến từ : Sai Gon

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết