D-Crew
Latest topics
» Detective Conan - file 770
Sun Jan 08, 2012 5:31 pm by 6-24-18-6-2

» Detective Conan - file 769
Sun Jan 08, 2012 5:25 pm by 6-24-18-6-2

» Detective Conan - file 768
Sun Jan 08, 2012 5:17 pm by 6-24-18-6-2

» Detective Conan - file 767
Sun Jan 08, 2012 5:11 pm by 6-24-18-6-2

» Detective Conan - file 766
Sun Jan 08, 2012 5:01 pm by 6-24-18-6-2

» Detective Conan - file 765
Sun Jan 08, 2012 4:52 pm by 6-24-18-6-2

» Detective Conan - file 764
Sun Jan 08, 2012 4:46 pm by 6-24-18-6-2

» Detective Conan - file 763
Sun Jan 08, 2012 4:42 pm by 6-24-18-6-2

» Detective Conan - file 762
Sun Jan 08, 2012 4:40 pm by 6-24-18-6-2

December 2017
MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031

Calendar Calendar


[Jenny Nimmo] Charlie Bone - Tập 1: Charlie Bone lúc nửa đêm(6)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

[Jenny Nimmo] Charlie Bone - Tập 1: Charlie Bone lúc nửa đêm(6)

Bài gửi by HD on Sat Feb 12, 2011 3:50 pm

“Ta nghĩ là ta phải tin mày, Charlie. Nhưng chính mắt ta đã thấy nơi chiếc xe hơi lao xuống hầm đá. Ba mày không thể thoát ra khỏi đó được, và nếu ông ấy có thoát ra được thì hiện giờ ông ấy ở đâu cơ chứ?”

Charlie buồn rầu nhún vai. Nó không biết câu trả lời, nhưng hết sức bất ngờ, nó được biết là sau đó không ai tìm ra xác ba nó.

“Con nghĩ là bà nội đã ngăn không cho họ kết liễu ba, vì đó là con trai bà. Nhưng vì không bắt được ba làm theo những gì bà muốn, nên bà đã để mặc cho tai nạn và tất cả mọi chuyện xảy ra. Tất cả bọn họ, cả gia đình nhà Bloor và nhà Yewbeam, đều cùng một phe, ngoại trừ Ông cậu, Ông cậu Paton ạ. Nếu ai đó ngăn trở hay làm điều gì họ không thích, thì họ sẽ trừ khử người đó, hay giấu người đó đi, hay làm cho người đó quên mất mình là ai.”

“Ôi!” Đột nhiên Ông cậu Paton đấm mạnh xuống bàn. “Ta trách chính bản thân mình. Luôn cuối đầu xuống không phải là điều tốt. Lúc ấy ta đã biết là có điều gì đó đang diễn ra, không thể chối cãi... Dạo ấy mấy bà chị của ta đang âm mưu tính toán điều gì đó; họ cứ xầm xì với nhau, họ có những buổi gặp gỡ bí mật, à...lại có cả những cuộc viếng thăm của giáo sư Bloor và lão già Ezekiel, ông nội cực kỳ kinh khủng của hắn nữa. Vậy mà ta chẳng quan tâm.”

“Ông nội?” Charlie hỏi, hơi ngạc nhiên.

“Ừ, ông nội,” Ông cậu Paton nhắc lại. “Đúng là một lão già tội lỗi. Bây giờ lão ta phải hơn trăm tuổi là ít. Một buổi tối, ta nhận được điện thoại của Lyell. Ba mày đã phát hiện ra điều gì đó và ông ấy cần lời khuyên của ta. Dạo ấy, ba mày sống ở bên kia thành phố cùng với mày và mẹ mày. Ta bảo ta sẽ gặp ông ấy ở bên ngoài nhà thờ.” Ông cậu Paton ôm láy mặt. “Nhưng ta đã không đến, Charlie à,” Ông cậu rên rỉ. “Ta quên khuấy đi mất, ta mải vùi đầu vô cuốn sách của ta, mày biết đó. Nhưng cuốn sách làm sao lại có thể so với mạng người được? Từ ấy ta không bao giờ còn nhìn thấy ba mày nữa.”

Mặc những biến cố khủng khiếp và kỳ bí bao quanh sự biến mất của ba mình, Charlie vẫn cảm thấy rất tự hào. Ba nó đã cố gắng ngăn không cho tội ác xảy ra.

“Ông cậu Paton ơi, ngày mai con sẽ đem cuộn băng của tiến sĩ Tolly cho cô Ingledew. Và trong lúc ở đó, con sẽ cố giải thích về việc nổ bóng đèn và mọi thứ cho Ông cậu”

“Mày thật tử tế quá,” Ông cậu Paton ủ ê. “Nhưng ta e là viễn cảnh của ta đã an bài mất rồi.”

“Không phải vậy,” Charlie cãi lại. Thình lình nó nhận ra mình và Ông cậu đang rất ồn ào. Nó ngạc nhiên, nội Bon ở đâu mà sao lại không nện xuống sàn nhà, hay nhảy bổ xuống lầu, lao vào câu chuyện nhỉ.

“Hay nội bị sao rồi?” nó hỏi.

Trong đêm hôm đó, lần đầu tiên Ông cậu Paton mỉm cười.

“Ta đã cho một thứ vô sữa của bà ấy. Bà ấy sẽ không tỉnh giấc trong nhiều giờ. Có thể là không tỉnh lại cho đến buổi uống trà ngày mai”

Charlie phá ra cười. Nó không thể nào nhịn nổi. Ngoác tận mang tai, nó và Ông cậu vừa cười vừa cùng nhau bước lên cầu thang, tạm quên đi những vấn đề rắc rối của mình. Ít nhất là vào lúc này.

Chương 14
CUỘC MẶC CẢ TRONG ĐÊM CỦA BILLY


Khi Billy Raven nói với Charlie rằng nó không phiền gì khi phải ở một mình trong phòng ngủ chung dài hút, thì điều đó chẳng đúng chút nào. Thực ra, Billy rất sợ những tối thứ Bảy. Nó trằn trọc khó ngủ, biết rằng mình lại phải một mình trải qua trọn một ngày và một đêm nữa.

Đúng ra thì cũng có con May Phúc bầu bạn với Billy, theo cách riêng của chó, nhưng kiến thức về loài người của con chó già này khá là hạn ché. Chuyện của nó toàn là chuyện thú vật, và cảm xúc cũng là cảm xúc của loài vật, và vì bây giờ May Phúc đã già rồi, nên nó cứ ca cẩm về bệnh tật. Tuy Billy rất thông cảm với May Phúc, nhưng nó nghĩ sẽ thích hơn nếu có một thằng bạn, hay một nhỏ bạn, để mà trò chuyện.

Ở học viện cũng có những trẻ mồ côi khác, Billy biết vậy, nhưng tất cả bọn chúng đều đã được các gia đình dễ chịu, thân thiện nhận làm con nuôi rồi. Billy thường tự hỏi tại sao không ai muốn nhận nuôi nó cả. Và nó quả quyết rằng đó là vì trông nó kỳ dị quá – có lẽ người ta sợ tóc trắng và mắt đỏ.

Ở phía bên kia mảnh sân gạch, những ngọn nến trong phòng Manfred lập loè như những ngôi sao nhỏ ghê rợn. Billy nhìn nến cháy hồi lâu, rồi không kéo màn lại, nó bước qua con May Phúc, leo lên giường. Nó chưa kịp ngả đầu xuống gối thì con chó già thở phì một cái và ngồi dậy.

“Có người muốn gặp Billy,” May Phúc nói.

“Ai muốn gặp tôi?” Billy hỏi, hơi chột dạ.

“Lão già. Bây giờ. Tôi sẽ chỉ.”

“Bây giờ á? Nhưng khuya rồi và... và... tại sao ông ấy muốn gặp tôi?”

“May Phúc không biết. Đi ngay nào.”

Billy xỏ đôi dép lê, với lấy đèn pin trong ngăn kéo, rồi quấn mình trong chiếc áo choàng tắm, đi theo May Phúc ra khỏi phòng ngủ chung.

Pin trong đèn của Billy còn rất yếu, và nó khó mà nhìn thấy cái đuôi của May Phúc đang ve vẩy ở đằng trước. Mấy hôm rồi Billy cé định sẽ hỏi xin pin của một anh lớn nào đó, nhưng nó không biết chắc phải hỏi xin ai. Cuối tuần tới có thể nó sẽ về nhà Charlie. Charlie sẽ cho nó một bộ pin mới, nó chắc như vậy.

May Phúc đi nhanh hơn thường lệ rất nhiều, và cứ vài quãng Billy lại phải chạy mới theo kịp con chó già. Tuy nhiên, khi tới một cầu thang, May Phúc bước chậm lại. Chợt nó rướn thân mình lên, thở phà phà. Trên đầu cầu thang đó, không khí đặc và ấm. Giờ đây, cả hai chúng nó sắp bước vào lãnh địa của gia đình Bloor. Billy rùng mình nghĩ xem điều gì sẽ xảy ra nếu Manfred thấy nó đứng lớ xớ ngoài cửa phòng.

“Mi có chắc là không nhầm lẫn gì chứ?” Billy hỏi con chó. “Mi có nghĩ là mi lầm rồi không?”

“May Phúc không bao giờ lầm” con chó khịt mũi. “Theo tôi.”

Billy đi theo con chó, dọc theo những hành lang nồng nặc mùi nến, và rồi lại lên một cầu thang khác, đi vào một vùng tối âm u, nơi có những luồng khí chốc chốc lại phòi ra khỏi vách tường rồi nổ một cái “phụp”, với mạng nhện giăng phất phơ, thả từ trên trần nhà vỡ nát, tối thui xuống.

“Mùi dễ chịu,” May Phúc khen.

“Dễ chịu?” Billy lấy làm lạ. “Giống mùi trứng thối... và ... và mùi con gì chết thì có.”

“Dễ chịu mà,” May Phúc lặp lại. Nó đã tới một cánh cửa đen có tay nắm bằng đồng, khổng lồ. Trên cánh cửa có một mảng sơn lớn bị trầy do những đường cắt sâu gây ra, và khi May Phúc giơ một chân lên và bắt đầu cào vào cánh cửa, thì Billy nhận ra những đường cắt ấy là gì. Rõ ràng, con chó già này thường xuyên tới đây.

Sau ba lần cào cửa, một giọng nói khô khốc và ngạo mạn vang lên, “Vô đi!”

Billy vặn nắm đấm cửa và bước vô. Nó nhận ra mình đang ở trong một căn phòng kỳ lạ. Ấnh sáng duy nhất là phát ra từ ngọn lửa cháy trong lò sưởi bằng đá khổng lồ ở cuối phòng. Bên cạnh lò sưởi là một lão già ngồi trên xe lăn. Những sợi tóc trắng, mỏng te hờ hững lòi ra khỏi cái nón lưỡi trai bằng len đỏ; và bên dưới vành nón, khuôn mặt xương xẩu của lão già nhô ra như một cái đầu lâu, cặp mắt lão đen và sâu hoắm, gò má lõm, đôi môi mỏng đến độ gần như không có, tuy nhiên, cái miệng khủng khiếp của lão mỉm cười khi Billy bước vô.

“Lại gần đây, Billy Raven.” Lão già ngoắc một ngón tay dài và cong vẹo.

Billy nuốt nước miếng và tiến lại gần. Hơi nóng trong phòng thật ngột ngạt, và Billy không thể tưởng tượng nổi tại sao lão già còn choàng một chiếc khăn len quanh vai. Nó tiến vài bước vô giữa phòng và dừng lại. May Phúc lịch bịch đi ngang qua nó và nằm xuống cạnh lò sưởi, thở ầm ĩ.

“Trong này nóng quá, thưa ông,” Billy vừa nói vừa há miệng đớp không khí.

“Rồi con sẽ quen thôi. Con cún của ông mê lò sưởi, phải thế không, Percy?” Lão già cười hềnh hệch, đầy vẻ âu yếm với con chó, mặc dù cái cười của lão y như một tiếng rú.

“Cháu tưởng đây la con chó của bà bếp trưởng chứ, thưa ông.”

“Nó cứ nghĩ nó là con chó của bà bếp, bởi vì ông không dẫn nó đi dạo được nữa. Phải vậy không, Percy?”

“Nó nói với cháu tên nó là May Phúc.” Billy liều tiến thêm một chút vào phòng.

“Tên nó là Percival Pettigrew Pennington Pitt. Nhưng nó cứ nghĩ tên nó là May Phúc.” Lão già cười khọc khọc. “Con muốn uống sữa ca cao không, Billy?”

Billy chưa bao giờ uống sữa ca cao cả. Nó không biết món ấy có mùi vị ra sao.

“Món đó nóng và ngọt và cho con cảm giác tuyệt vời.” Một lần nữa, ngón tay cong vẹo của lão già lại ngoắc một cái. “Có một xoong sữa đang hâm nóng trên lửa ấy. Và trên cái bàn con của ông ở đằng kia, con sẽ thấy có hai cái ca màu xanh da trời đựng ca cao và đường, đã được trộn rồi. Con chỉ việc đổ sữa vô đó và khuấy đều, sau đó chúng ta sẽ có một cuộc trò chuyện nho nhỏ thú vị, được chứ, Billy?”

“Vâng,” Billy líu ríu đáp. Nó thực hiện lời chỉ dẫn của lão già, và chẳng bao lâu sau, nó đã ngồi trên một chiếc ghế to, thoải mái, thích thú thưởng thức tách ca cao đầu tiên trong đời.

Lão già uống xì xụp vài ngụm rồi nói, “ Bây giờ thì, Billy à, ôn gnghĩ là con đang tự hỏi ôn glà ai. Ông là Bloor Cụ Kỵ. Ha ha!” Tiếng cười nhạo đó nghe thật bệnh hoạn. “ Nhưng ông cũng là Ezekiel. Con có thể gọi ông là ngài Ezekiel.”

“Cám ơn ông,” Billy nói.

“Tốt! Tốt! Nào, Billy, con đang có vấn đề, đúng không? Chưa ai nhận nuôi con, hả? Không ai nhận con. Thật đáng tiếc quá nhỉ? Con có muốn được nhận làm con nuôi không, Billy? Con có muốn có ba mẹ dễ thương, tử tế và vui vẻ không?”

Billy nhổm dậy.

“Muốn!” nó hấp tấp.

Dường như có một thoáng chớp nhỏ trong đôi mắt sâu hoắm của lão già.

“Rồi con sẽ được như vậy, Billy à. Ông đã kiếm được cha mẹ cho con rồi. Họ là những người tuyệt vời và rất, rất mong đón con về.”

“Thật chứ?” Billy gần như không tin nổi điều đó. “Nhưng làm sao họ lại biết cháu?”

“Chúng ta đã nói cho họ biết mọi chuyện về con. Họ biết con thông minh như thế nào, con là đứa ngoan ngoãn ra sao, và họ đã xem hình của con lưu ở trường.”

“Vậy là họ đã biết về...” Billy sờ sờ mái tóc trắng của nó.

Lão Ezekiel thảy ra một nụ cười nham hiểm. “Họ biết con là đứa bị bạch tạng, và điều đó chẳng làm họ lo lắng tí nào.”

“Ôi,” Billy cảm thấy ngây ngất vì vui sướng. Nó húp một ngụm dài món sữa ca cao ngọt ngào, béo ngậy để ổn định tinh thần.

Lão Ezekiel bây giờ đang nhìn chằm chằm nó.

“Billy này, nếu bọn ta sắp xếp cho con vụ làm con nuôi, thì mong con sẽ làm gì đó để đền đáp cho bọn ta.”

“Cháu hiểu,” Billy ngập ngừng đáp.

“Con vừa có một người bạn mới, đúng không? Một thằng nhóc trong phòng ngủ chung của con tên là Charlie Bone ấy?”

Giọng nói của lão rất ân cần và nhẹ nhàng, và Billy được trấn an một lần nữa.

“Dạ, nó đáp.

“Ông muốn con nói cho ông nghe tất cả những việc nó làm – nó đi đâu, và quan trọng hơn cả là nó nói những gì. Con nghĩ là con có thể làm được những điều này không?”

Lão già chồm về phía trước, chăm chú nhìn Billy bằng đôi mắt đen sắc lạnh.

“Được ạ,” Billy lí nhí. “Cháu sẽ đến ở nhà anh ấy vào kỳ cuối tuần tới, nếu cháu được phép.”

Con sẽ được phép, Billy. Sẽ rất tuyệt. Và bây giờ con có thể nói cho ông mọi thứ mà con đã biết về nó cho tới lúc này đi nào.”

Với viễn cảnh được mãi mãi sống với ba mẹ tử tế và tuyệt vời, Billy hăm hở nói với lão già tất cả mọi thứ mà lão muốn biết. Nó không nghĩ làm như thế sẽ gây nguy hiểm cho Charlie, và thậm chí nó còn thú nhận phần của nó trong vụ bí mật theo dõi giáo sư Bloor trong tháp Da Vinci. Lão già nhăn mặt khi nghe tới điều này và lầm bầm chửi trong cổ họng; nhưng lão nhanh chóng lấy lại vẻ ân cần quan tâm, trong lúc Billy tiếp tục kể tỉ mỉ tất cả những chi tiết nó còn nhớ được. Duy có một điều về Charlie mà nó không nói với lão già. Nó không nói với lão rằng Charlie biết ba mình vẫn còn sống, chỉ vì chính nó không nghe được cuộc nói chuyện giữa Gabriel với Charlie về chiếc cà vạt xanh da trời.

“Cám ơn nhé, Billy,” lão già nói khi Billy kể xong. “Bây giờ con đi được rồi. Con chó sẽ đưa con về phòng ngủ chung. Percy, dậy đi!”

May Phúc chớp mắt và lảo đảo đứng dậy.

Billy nhẹ nhàng tuột khỏi cái ghế ấm áp, dễ chịu và đặt cái ca không lên bàn. “Khi nào thì con được gặp ba mẹ mới của con hả ông?” nó hỏi.

“Mọi việc sẽ đâu vào đấy.” Giọng nói của lão già chẳng còn chút nồng hậu nào. “Con phải làm đúng nhiệm vụ của con trong vụ thoả thuận đầu tiên này đã.”

“Vâng, thưa ông.” Với May Phúc đang thở khọt khẹt bên cạnh, Billy đi ra cửa, quay lại và nói “Chúc ông ngủ ngon. Khi nào thì con...”

“Chừng đó con chó sẽ mang tin đến.” Lão Ezekiel vội tiễn nó bằng một cái vẫy tay thiếu kiên nhẫn.

Khi chỉ còn một mình, lão già chỉ ngón tay bị biến dạng của mình vô cái xoong. Cái xoong từ từ nhấc lên không trung, lão lại ra hiệu, cái xoong nhẹ nhàng bay về phía cái ca không.

“Rót vô,” lão ra lệnh.

Cái xoong ngả về phía trước và rót sữa ấm vào ca, nhưng lại để nhỏ vài giọt lên cái khăn choàng len của lão.

“Đồ ngu.” Lão Ezekiel la lên. “Mày mãi vẫn không học được sao?”

Căn phòng nóng bức dường như đã làm con May Phúc kiệt sức. Phải mất một lúc lâu con chó mới về đến phòng ngủ chung, và vào lúc cây đèn pin của Billy bị cạn sạch nhiên liệu, nó đành phải đi bên cạnh, một tay để lên đầu con chó già. May Phúc biết đường đi ngay cả trong bóng đêm tối mịt và chỉ dừng lại một lần để nói,

“Tai tôi đau, đừng đụng vô.”

“Xin lỗi,” Billy nói.

“Cần thuốc nhỏ tai.” May Phúc thì thào. “Billy có không?”

Billy không biết làm thế nào mà moi được thuốc nhỏ tai.

“Để coi,” nó trả lời.

Về đến phòng ngủ chung, chúng thấy bà bếp trưởng đang lo lắng đi đi lại lại ở ngoài. Bà thấp tròn, mái tóc xám và đôi má hồng đỏ lên. Đúng hình mẫu của một bà bếp trưởng.

“Nãy giờ ta chạy kiếm con chó ấy khắp nơi,” Bà bếp trưởng nói. “Phải xức thuốc cho nó.”

“Nó nói là nó cần thuốc nhỏ tai,” Billy nói với bà.

“Vậy hả?” Bà bếp trưởng biết mối quan hệ của Billy với May Phúc. “Nó thì bộ phận nào mà chẳng cần nhỏ thuốc? Nãy giờ con ở đâu vậy, cu Billy?”

“Con vừa phải đi gặp một ông già.”

“Tội nghiệp,” bà bếp trưởng thở dài một cách tử tế. “Nếu ta là con thì bây giờ ta sẽ đi ngủ ngay.”

Billy chúc bà bếp trưởng và May Phúc ngủ ngon rồi lên giường. Nó nằm thao thức một hồi lâu, cố hình dung xem ba mẹ mới của nó như thế nào.

Processing.... Processing....
Chương 15
chàng hiệp sĩ tỏa sáng, rung chuông và hát thánh ca


Thật sung sướng khi thức dậy vào sáng chủ nhật mà biết rằng nội Bone vẫn còn say ngủ. Charlie nhảy ra khỏi giường và đi xuống ăn một bữa sáng thỏa thích với ngoại Maisie và mẹ.

“Ngoại tin chắc là dạo gần đây con có vài bữa điểm tâm chẳng ra gì, đúng không nào?” Ngoại Maisie hỏi.

“Năm bữa ạ,” Charlie đáp. Nó xin phép bà và mẹ là nó sẽ tới nhà Benjamin hơi lâu lâu, và để đền bù cho khoảng thời gian đó, nó sẽ đi rửa đĩa sau bữa điểm tâm.

Nhưng mẹ không muốn nó làm như vậy.

“Con cứ đi, vui vẻ thoải mái vào,” mẹ nó nói, tươi cười vẫy tay tạm biệt nó.

Benjamin trông có vẻ lo lắng khi ra mở cửa cho Charlie.

“Mình vừa nhận được thư của ba má,” nó bảo.

“Mình ngạc nhiên tưởng ba má bồ ở nhà chớ,” Charlie ngạc nhiên.

“Mình cũng tưởng vậy. Nhưng có lẽ ba má đã đi hồi sớm nay. Mình nhớ mang máng là má có vô hôn mình khi trời vẫn còn tối. Khi thức dậy, mình thấy bức thư này dưới gối.” Benjamin dẫn Charlie vô bếp, nói con Hạt Đậu đang xơi nốt món bánh đa rắc bắp.

“Mình đọc thư được không?” Charlie hỏi.

Benjamin đưa bức thư cho Charlie. Rõ ràng là bức thư được viết vội, vì nét chữ xổ ào ào trên trang giấy, với những vòng móc nguệch ngoạc dính vào nhau. Lá thư viết:

Benjamin yêu quý của ba má,

Như con đã biết, ba má là những thám tử tư. Dạo gần đây ba và má đang cùng điều tra chung một vụ án. Đó là vụ một người lau cửa sổ bị mất tích. Vụ này đã ngốn hết thời gian của ba má, làm cho ba má mệt nhoài, và ba má rất tiếc. Benjamin yêu quý, là ba má thường phải để con ở nhà một mình. Ba má sẽ đền bù cho con khi về nhà.

Đây là lý do ba má viết lá thư này. Vụ mất tích kỳ lạ của người lau cửa sổ vừa chuyển sang một bước ngoặt đầy lý thú. Ba má vừa nhận được thông tin là anh ta có thể đang bị mắc kẹt trong một cái tahng ở Scotland, vì thế ba má sẽ tới đó ngay tức khắc, trước khi anh ta biến mất lần nữa.

Hãy tự chăm sóc mình nhé, Benjamin thân yêu.

Thương con nhiều.

Ba má

Tái bút: Một phụ nữ dễ mến do dịch vụ xã hội gởi đến trông nom cho con đến khi ba má trở về.

“Mình không thích cái đoạn nói về người phụ nữ dễ mến,” Charlie nhận xét khi đã đọc xong lá thư. “Từ ‘dễ mến’ có thể hiểu theo nhiều cách của mỗi người.”

“Miễn bà ấy tốt với con Hạt Đậu là được rồi, mình không quan tâm,” Benjamin nói, vẻ thờ.

Hai thằng quyết định đến nhà cô Ingledew ngay tức khắc. Benjamin đã cẩn thận sang thêm một cuộn băng, đề phòng trường hợp Manfred xuất hiện bất ngờ để lục soát chúng, hoặc điều gì khủng khiếp tương tự xảy ra. Nó cũng đã đẩy một chiếc va-li to xuống tầng hầm, và thảy một tấm thảm lên trên, để bất cứ ai lùng sục kiếm cái thùng của tiến sĩ Tolly sẽ bị đánh lừa mất một lúc.
“Chắc là bồ phải tất bật lắm nhỉ,” Charlie trầm trồ thán phục.

Với sự dẫn đường của con Hạt Đậu, hai đứa xuất phát, tới hiệu sách. Vì là ngày chủ nhật nên chúng thấy hiệu đóng cửa (tất nhiên rồi), nhưng sau vài tiếng gõ cửa và vài lần gọi thật lớn, cô Ingledew đã ra. Cô mặc một chiếc áo choàng dài màu xanh lá cây, và trông cô buồn rười rượi.

“Các cháu muốn gì?” Cô hỏi. “Trời đất ơi, hôm nay là chủ nhật mà.”

“Cháu xin lỗi, cô Ingledew,” Charlie nói. Nó báo cho cô biết về cuộn băng chúng đã tìm thấy trong con chó kim loại.

“Nó rất có ý nghĩ với cô đấy,” nó nói. “Vì thế tụi cháu mang nó tới cho cô đây. Nó ẽ nói cho cô biết tất cả mọi điều về cháu gái của cô. Cô bé đang ở trong học viện, và tụi cháu nghĩ mình có thể đánh thức bạn ấy.”

“Đánh thức bạn ấy? Các cháu đang nói về cái gì vậy? Đi vô đây đã, cả hai đứa.” Cô liếc con Hạt Đậu . “Nó không ăn sách đấy chứ?”

“Không bao giờ,” Benjamin cam đoan.

Chúng theo cô Ingledew đi qua tấm rèm và vào phòng khách ấm cúng, nơi xếp sách thành hàng, con Hạt Đậu chú ý cẩn thận để không làm đổ những chồng sách nhỏ nằm rải rác trên sàn.

Cô Ingledew nhét cuộn băng vô một chiếc máy ghi âm đầy bụi bặm và ra hiệu cho hai đứa ngồi xuống. Chúng ấn mình vào chiếc ghế bành duy nhất còn trống (những ghế khác đều chất đầy ắp sách và báo), trong lúc cô Ingledew ngồi ghé vào một bên cạnh bàn. Cô bấm nút cho băng chạy và giọng nói tiến sĩ Tolly vang vang khắp căn phòng.

Hai đứa quan sát nét mặt cô Ingledew khi cô lắng nghe. Nhiều lần cô lắc đầu và thường xuyên quệt tay ngang mắt. Chốc chốc, cô lại thốt lên “Ồ, không” và cuối cùng, khi b ăng đã hết, cô nghẹn ngào, “Cô nhớ rất rõ ngày hôm đó. Có một điều lạ lùng đã xảy ra – đáng lý cô phải đoán ra mới phải.”

“Là điều lạ lùng gì ạ?” Charlie hỏi.

“Mấy con mèo,” cô Ingledew đáp.

“Mèo à?” Charlie bật dậy.
“Cô không biết chúng ở đâu tới, nhưng vào cái ngày bé Emma phải đi, thì chúng đột nhiên xuất hiện trong nhà bếp của cô. Chúng làm lửa bùng lên bằng cách hất cho một chiếc khăn lau đĩa rớt vô bếp ga. Phải mất một hồi mới dập được đám cháy đó. Bộ lông của chúng rất rực rõ – đỏ, cam, vàng – và chúng cứ vây tròn quanh đứa bé, cứ như cố gắng bảo vệ nó vậy. Cuối cùng, khi tiến sĩ Tolly bồng đứa bé đi, chúng cào vô mặt chú ấy một vết kinh khủng.”

“Một trong mấy con mèo đó có trong bức hình,” Charlie nói.

“Cô dám chắc đó chính là nó,” cô Ingledew công nhận. “Lúc trước chúng lảng vảng khắp nơi. Nhưng khi Emma đi rồi thì chúng biến mất luôn.” Cô xoa trán. “Vậy là bé Emma tội nghiệp vẫn còn bị mê ngủ. Điều này thật hết sức không bình thường.”

“Bạn ấy bị thôi miên,” Charlie nói. “Manfred cũng đã làm như thế với cháu. Có điều hắn thôi miên bạn ấy nặng hơn. Nhưng sức thôi miên đang mất dần tác dụng, cô Ingledew ạ. Cháu nghe bọn họ nói chuyện về cháu gái của cô, Manfred nói rằng nó đã chán ngấy vì cứ phải “kìm giữ con bé”. Như vậy sẽ không phải mất nhiều công sức để làm bạn ấy tỉnh lại đâu cô ạ, và tụi cháu nghĩ là tụi cháu có một thứ để làm được việc đó.”

“Nhưng hiện giờ Emma là ai trong trường cháu, Charlie?”

“Tụi cháu nghĩ đó là một nữ sinh tên là Emilia Moon,” Charlie nói. “Bạn ấy có mái tóc vàng hoe, mắt xanh, trông hơi mơ màng. Bạn ấy ít nói nhưng vẽ rất giỏi.”

“Nancy,” cô Ingldew thì thào. “Nghe tả thì con bé có vẻ giống chị Nancy của cô quá. Ồ, ước gì cô có thể gặp con bé ấy.”

“Cô cứ để chuyện đó cho tụi cháu, cô Ingledew à,” Charlie nói, nhổm đứng lên. “Tụi cháu sẽ tìm cách làm bạn ấy tỉnh lại, rồi bạn ấy có thể về sống với cô.”

Cô Ingledew thở gấp gáp. “Có nên làm điều đó không? Biết đâu con bé đang hạnh phúc khi sống với gia đình Moon.”

“Trông bạn ấy có vẻ không vui,” Charlie ái ngại. “Chắc chắn bạn ấy còn không biết là bạn ấy biết bay nữa.”

“Đúng thế ạ,” Benjamin xác nhận. “Ước gì cháu cũng biết bay.”

“Cô nghĩ thật khó có chuyện Emma biết bay. Tiến sĩ Tolly trước đây không bao giờ đề cập đến chuyện này.” Cô Ingledew búng mình ra khỏi bàn. “Cô không biết phải cảm ơn cháu thế nào cho đủ, Charlie, và cả cháu nữa, Benjamin,” cô xúc động, “Các cháu đã mang hy vọng đến cho cô. Hãy cho cô biết khi nào thì các cháu cần cô giúp nhé.”

“Nhất định rồi,” Charlie nói. Nó vừa liếc thấy một mảnh thuỷ tinh nhỏ xíu lấp lánh trên tóc cô Ingledew, và phân vân không biết làm sao để đề cập đến vụ nổ bóng đèn không may kia. Nó phải nói thôi, vì Ông cậu Paton. Nhưng con Hạt Đậu đang sủa ầm ĩ và chúng đã đi qua tấm rèm, hướng ra cửa.

Charlie đột ngột đứng lại, hắng giọng và nói, “Về Ông cậu của cháu, thưa cô Ingledew...”

Mặt cô Ingledew ửng đỏ lên. “Cô không muốn nói đến chuyện đó.”

“Nhưng đó là một tai nạn.”

“Tai nạn à? Thật xấu hổ chưa từng thấy.”

“Ý cháu muốn nói tới vụ bóng đèn, cô Ingledew à. Ông cậu của cháu không thể kiểm soát được mình.”

“Bóng đèn?” Cô Ingledew không hiểu. “Ông ấy đột ngột bỏ cô lại, ừm, nói chính xác là bỏ chạy. Ai cũng có thể nghĩ cô là một bà chằn.”

“Không phải đâu ạ. Hoàn toàn ngược lại. Chính vì Ông cậu của cháu nghĩ cô rất đẹp nên mới xảy ra chuyện đó.”

Nhìn vẻ bối rối của cô Ingledew, Charlie sốt sắng đi thẳng vào vấn đề và nói toẹt ra sự thật về thiên khiếu kỳ dị của Ông cậu nó.

Cô Ingledew sững người nhìn Charlie, ban đầu không tin, sau thì kinh hãi. Cuối cùng, một thoáng lo lắng hiện ra trên nét mặt cô.

“Ra là thế,” cô lầm bầm. “Thật là kỳ dị.”

“Ông cậu thực lòng rất muốn gặp lại cô,” Charlie nói tiếp, tràn trề hy vọng.

“Hừm,” cô Ingledew ậm ừ. “Bây giờ cô cảm thấy hơi mệt, các cháu à.”

Cô mở cửa và hai đứa ngoan ngoãn bước ra. Cánh cửa đóng chặt lại sau lưng chúng.

“Mình không hề biết là Ông cậu của bồ đã làm những chuyện đại loại như vậy,” Benjamin nói.

“Đừng nói với ai nhé,” Charlie dặn dò. “Đáng ra mình không nói với cô Ingledew đâu, nhưng Ông cậu Paton tha thiết muốn gặp lại cô Ingledew, vì thế mình nghĩ tốt nhất là nói ra sự thật.”

“Mình lại nghĩ điều đó làm cho cô ấy sợ chết khiếp,” Benjamin nói. “Giờ tụi mình ghé nhà anh Fidelio đi. Lẹ lên. Mình có bản đồ đây.”

Benjamin và con Hạt Đậu chạy đua với nhau ở phía trước, trong khi Charlie đủng đỉnh theo sau, cảm thấy chuyện giữa cô Ingledew và Ông cậu nó thật bi đát. Xem ra nó đã làm cho tình huống thậm chí còn xấu hơn.

Nhà của Fidelio trông thật lạ mắt, hay nói chính xác hơn, thật là lạ tai. Đó là một ngôi nhà cũ, rộng rãi, may mắn thay, nằm biệt lập giữa một quảng trường rải sỏi. Cái gọi là vườn chỉ là những mảng cỏ lưa thưa chung quanh nhà, trồng bên trong một bức tường thấp bằng gạch.

Khi Benjamin và Charlie đến nơi, tiếng ồn từ trong nhà phát ra khủng khiếp đến nỗi chúng tìm thấy mấy cái xà bằng gỗ sồi đỡ mái hiên rung lên, và hai viên ngói tuột khỏi mái nhà rồi vỡ vụ dưới lối đi lát gạch.

Tiếng ồn hợp thành từ nhiều loại nhạc cụ – nổi bật là tiếng vĩ cầm, tiếng hồ cầm, tiếng sao, tiếng thụ cầm, và tiếng dương cầm. Một tấm biển đồng gắn trên cửa cho chúng biết nơi này được gọi là Mái Ấm Gia Đình Gunn (*). Khi nghe tiếng trống không ngớt dội ra từ một cửa sổ thấp, hai thằng nghĩ, thật dúng là súng nổ đùng đoàng.

Charlie tự hỏi không biết làm thế nào mà người trong nhà nghe được chuông cửa. Và ngay lập tức, nó vỡ lẽ ra: khi nó nhấn chuông, một giọng nói được thu âm cất lên oang oang “MỞ CỬA! MỞ CỬA! MỞ CỬA!”

Hai đứa giật nảy người ra sau, và con Hạt Đậu tru lên một tràng dài sợ hãi. Mấy giây sau, Fidelio ra mở cửa, Charlie và Benjamin nhận ra mình đang bước vào một vương quốc âm nhạc. Trẻ con rần rần chạy ngược xuôi trên cầu thang, ra vô khắp các phòng, tay đứa nào đứa nấy cầm bản nhạc hoặc rất nhiều loại nhạc cụ.

“Đây là... ý em là tất cả những người này đều thuộc gia đình anh à?” Charlie ngạc nhiên hỏi.

“Hầu hết,” Fidelio trả lời. “Gia đình anh có mười người, tính cả ba và mẹ. Còn đâu là mấy người bạn yêu nhạc của nhà anh ghé chơi. Anh cả Felix của anh đang bắt đầu thành lập một ban nhạc rock.”

Một người đàn ông to lớn, có râu quai nón băng ngang qua chiếu nghỉ trên đầu cầu thang, và Fidelio gọi với theo, “Ba ơi, đây là Benjamin, còn đây là Charlie!”

Ông Gunn tươi cười nhìn xuống lũ trẻ và hát to lên:

“Benjamin và Charlie , ăn lúa mì, chào mừng cả hai con, tuy chẳng có chi.”

Ông cười ha ha rồi biến mất vô một căn phòng tràn ngập tiếng vĩ cầm.

“Xin lỗi nhé,” Fidelio phân bua. “Ba anh thích chuyển tất cả mọi thứ thành bài hát. Anh đã cất cái thùng vô căn phòng ở trên tầng cao nhất rồi. Đi nào.”

Rồi nó dẫn hai đứa bạn và con Hạt Đậu đang run lẩy bẩy đi lên cầu thang, đi ngang qua những cánh cửa rung lên bần bật vì âm thanh. Căn phòng của ban nhạc rock khiến Hạt Đậu rên lên thật thê thảm. Benjamin phải lấy cả hai tay bịt tai nó lại. Bất cứ khi nào đi ngang qua một đứa trẻ tóc vàng nhạt và có tàn nhang giống như Fidelio, thì cu cậu lại giới thiệu “Đây là Benjamin, còn đây là Charlie,” và hai thằng bé sẽ được chào đón bằng nụ cười rạng rỡ cùng với lời “Xin chào” hoặc “Chào”, hoặc “Rất hân hạnh gặp hai em.”

Sau cùng, chúng đã đến một cánh cửa nơi chót vót của căn nhà, và Fidelio dẫn hai đứa vô một căn phòng đầy ắp, như muốn nứt ra vì những thùng đựng nhạc cụ đủ mọi kích cỡ.

“Đây là ‘nghĩa trang’ dành cho nhạc cụ,” Fidelio giải thích. “Là nơi nhà anh cất giữ tất cả mọi thứ bị gãy vỡ, để một ngày nào đó sẽ sửa chúng lại.”

Nó kéo cái thùng dài đựng mộc cầm ra ánh sáng, cậy nắp và nhấc cái thùng kim loại của tiến sĩ Tolly ra ngoài.

“Tụi mình mở nó ra nhé?” Fidelio vừa hỏi vừa đặt cái thùng xuống sàn nhà.

Đột nhiên Charlie cảm thấy hoang mang. Nó vừa không thể chờ nổi giây phút mở ra xem trong thùng có cái gì, tuy nhiên, nó lại hơi sờ sợ. Ông cậu Paton chẳng đã đề nghị nó khi mở thùng thì phải để ông có mặt, để giúp đỡ nếu có gì đó không ổn hay sao? Nhưng cái gì có thể không ổn được trong một ngôi nhà thân thiện và ồn ào như thế này cơ chứ? Sẽ không ai nghe được những âm thanh mà tiến sĩ Tolly đã chế ra; và nếu có chăng nữa, thì họ cũng sẽ chẳng nghĩ gì về chuyện ấy cả.

“Được rồi,” Charlie nói.

“Bồ mở đi, Charlie,” Benjamin giục.

Charlie bước về phía trước và quỳ xuống cạnh cái thùng. Bây giờ nó có thể nhìn thấy rát rõ các chữ: MƯỜI HAI TIẾNG CHUÔNG CỦA TOLLY. Đầu tiên nó sờ vào các mẫu tự “M”, ấn nhẹ nhưng dứt khoát. Tiếp đến là chữ “Ư”, đến đây thì Charlie nhận thấy nó không thể dừng lại được nữa. Quá sức là dễ dàng. Nó ấn từng chữ, từng chữ một, và khi nó ấn ký tự cuối cùng, là “Y”, một tiếng vỗ nhẹ phát ra từ bên trong nắp thùng.

Charlie lẹ làng đứng lên và lùi lại vài bước.

Với một tiếng “rắc” thật lớn, nắp thùng bung ra sau, và một bức tượng người bắt đầu nhô lên khỏi cái thùng.

Chắc chắn đây không phải là những gì Charlie mong đợi. Nó đã tưởng tượng tổ tiên của tiến sĩ Tolly phải là một cụ già, mặc đồ nhung. Trong khi hình nhân bật ra khỏi cái thùng này là một hiệp sĩ. Những cánh tay và cẳng chân của chàng được bọc trong áo giáp sáng lóa, gồm những vòng kim loại xâu chuỗi vào nhau, và trên đầu chàng đội một cái mũ trùm chóp phẳng, cũng bằng những vòng kim loại xâu lại. Có một khoảng giáp hở ở mặt, nhưng cũng chỉ nhìn thấy được có mắt và mũi. Thật là một cảnh tượng kỳ lạ và đầy ma lực – cái hình người oai dũng, thanh cao và sáng lóa này bật dậy như một bông hoa nở nhanh. Đáng sợ nhất là thanh gươm sáng loáng trong tay phải của hiệp sĩ.

Khi bức tượng đã đạt đến hết chiều cao của nó, thì thình lình, chàng hiệp sĩ vung gươm lên, cả ba thằng bé và con chó cùng nhảy vội ra sau, cùng với những tiếng kêu, tiêng hét và tiếng sủa đầy giận dữ. Khi chúng yên lặng rồi, thì ở đâu đó bên trong người hiệp sĩ một hồi chuông bắt đầu ngân lên. Một, hai, ba... tiếp tục... và trong lúc tiếng chuông ngân vang, thì một dàn đồng ca tông trầm cất lên một bài thánh ca nghe có vẻ rất cổ.

“Tiếng La Tinh đó,” Fidelio thì thầm. “Anh đã nghe người ta tập hát bài này trong nhà thờ lớn.”

Bất giác, Charlie hiểu ra việc tiến sĩ Tolly đã làm. Ông đã sử dụng những âm thanh từng bao bọc xung quanh bé Emma Tolly vào đúng lúc cô bé bị thôi miên – hoặc bị yểm bùa. Tiến sĩ Tolly tin là những âm thanh này có thể sẽ đánh thức con gái mình dậy, và nếu như cô bé không thẻ nhớ ra mình là ai, thì chí ít, khi nghe những âm thanh này, cô bé cũng sẽ mang máng nhận ra được rằng đã có điều gì đó xảy ra với mình.

Hồi chuông bên trong người hiệp sĩ sáng chói rung lên lần thứ mười hai. Chàng hiệp sĩ hạ gươm xuống và bắt đầu chìm trở vào cái thùng.

Thật kỳ lạ khi nhìn cái cách chàng hiệp sĩ hạ người và thu nhỏ lại – chàng cúi oặt đầu và gieo mình xuống, cho tới khi nằm gọn gàng trong chiếc giường bọc vải lụa, bây giờ chàng không dài gì hơn chiều dài của thanh gươm sáng loáng.

“Chao!” Benjamin kinh ngạc.

“Tuyệt vời!” Fidelio thốt lên.

“Mình thắc mắc không biết cái thứ này có đúng là sẽ làm Emilia tỉnh lại được hay không.” Charlie lẩm bẩm.

Fidelio vẫn còn lắc đầu không tin. “Cách nào mà ông ấy làm được như thế nhỉ?” nó lẩm bẩm. “Vị hiệp sĩ dó làm bằng thứ gì vậy?”

“Gương mặt trông rất thật,” Benjamin nhậ xét. “Mắt sáng quắc luôn.”

“Bằng thủy tinh,” Charlie nói. “Phần còn lại là một loại hợp chất nào đó.”

Nó nghĩ dến những mảnh tượng kim loại quái đản trong xưởng của giáo sư Bloor.

“Mình cá là tiến sĩ Tolly đã đánh lừa gia đình Bloor trong nhiều năm: gửi cho bọn họ những robot, tượng kim loại, với những bộ xương được tô màu, giả bộ như chúng có chứa bí mật đánh thức Emilia dậy. Để bọn họ đừng quấy nhiễu ông nữa. Nhưng cuối cùng họ cũng bắt được ông.”

“Họ chỉ bắt được ông ấy, chứ không lấy được Mười Hai Tiếng Chuông của Tolly,” Benjamin gật gù.

Charlie đóng nắp thùng lại. “Anh nghĩ là nó sẽ an toàn ở đây cho đến cuối tuần sau chứ?” nó hỏi Fidelio.

“Tất nhiên. Nhưng tụi mình cần một bạn nữ giúp đỡ nếu tính đem Emilia đến đây.”

“Không lo,” Charlie nói chắc nịch. “Olivia Vertigo khoái máy chuyện như thế này lắm.”

Ba đứa con trai quay trở về vương quốc âm nhạc, lần này chúng gặp bà Gunn, bà cũng có mái tóc màu vàng nhạc và mặt đầy tàn nhang y như những người khác trong gia đình. Bà đang mang một cây hồ cầm băng qua hành lang, nhưng liền dần lại và âu yếm vỗ đầu từng đứa một khi chúng đi ngang.

Rời khỏi Mái Ấm Gia Đình Gunn, Benjamin và Charlie thẳng tiến về nhà số 9, nơi ngoại Maisie đã hứa về một bữa trưa linh đình đang chờ chúng.

Chẳng bao lâu sau, Charlie và Benjamin đã ngồi trước gà quay, khoai tây, củ cải và nhiều loại rau củ đặc biệt khác mà mẹ Charlie mang từ tiệm ra quả về. Có ba món tráng miệng để mà lựa chọn và lũ nhóc chén cả ba: kem, bánh pudding, bánh xoài hấp.

Ông cậu Paton nói vọng xuống là không thấy đói chút nào, thế là con Hạt Đậu lãnh phần của Ông cậu. Ngoại Maisie đắn đo không biết có nên chừa lại một chút thức ăn cho nội Bone hay không. Gần như chưa khi nào bà ấy nằm trên giường lâu như vậy, ngoại Maisie nhận xét.

Charlie cười tủm tỉm. “Sao ngoại không để Hạt Đậu xơi nốt đồ ăn còn lại cho rồi? Con đảm bảo nó muốn chén luôn phần của nội Bone đấy.”

Ngoại Maisie tán thành, và thế là con Hạt Đậu hăng hái dọn sạch phần ăn trưa thứ hai.

Benjamin ở lại tới bữa trà. Đó là lúc nội Bone thức dậy. Bà loạng choạng bước xuống lầu trong cái áo choàng xám.

“Chuyện gì thế này?” bà gắt gỏng. “Đã bốn giờ rồi. Sao không ai gọi ta dậy?”

“Bà đang mệt mà, Grizelda,” ngoại Maisie trả lời. “Chúng tôi không muốn đánh thức bà.”

“Mệt? Mệt? Ta chẳng bao giờ thấy mệt cả,” nội Bone nổi cáu.

Benjamin và Charlie liền trốn ra vườn, ở đó chúng chơi tất cả những trò mà Hạt Đậu ưa thích. Sau một lúc thì mọi thứ dường như đều trở lại giống y chang những dịp cuối tuần ngày xưa, như thể không có gì thay đổi từ khi chúng gặp nhau lần đầu, lúc cả hai mới lên 5. Kể từ đó, Hạt Đậu đã bự con lên rất nhiều.

Nhưng, tất nhiên là đã có những đổi thay. Ngày mai Charlie phải trở về Học Viện Bloor, và tối nay, một người hoàn toàn xa lạ sẽ đến chăm sóc Benjamin.

“Bồ có muốn mình đưa bồ về không?” Charlie hỏi khi bạn nó quyết định nên về nhà.

Benjamin lắc đầu, “Không sao đâu mà,” nó trả lời. “Mình đã có Hạt Đậu rồi.”

(*) Họ của Fidelio là Gunn, đọc hơi giống với từ “gun” – có nghĩa là súng

CHƯƠNG 16
CHIẾN TRANH BÙNG NỔ


Nếu Charlie đi cùng Benjamin đến nhà số 12, thì những gì xảy ra đêm hôm đó có lẽ đã được ngăn lại. Nhưng ai có thể nói chắc được? Nói gì đi nữa thì dòng họ nhà Yewbeam vẫn là một dòng họ đầy uy quyền.

Khi Benjamin và con chó của nó bước lên những bậc cấp dẫn tới cửa trước, con Hạt Đậu bỗng tru lên với vẻ bất an, và Benjamin tự hỏi con người “dễ mến” mà ba mẹ đã thuê đến để trông nom nó kia có thể là ai.

Người và chó cùng nhau bước vô hành lang. Một cái túi đen điệu đàng đặt dưới chân cầu thang, nhưng không có vẻ gì là túi của một cô bảo mẫu cả.

“Xin chào!” Benjamin tần ngần gọi.

Có ai đó từ trong bếp đi ra. Đó là một người cao, trang phục toàn màu đen, tóc xám búi trên đầu và những hạt ngọc trai to tròn đeo lủng lẳng ở tai. Bà ta không mang ủng đỏ, nhưng Benjamin biết ngay đó là ai. Hay đúng hơn, nó biết ngay bà này có liên quan đến bà mang ủng đỏ.

“Bác là…?” nó không biết phải kết thúc câu hỏi như thế nào.

“Bác là người bảo mẫu của cháu, cháu à.” bà ta nói.

“Chứ bác không phải là…?”

“Phải. Bác là một trong những bà cô của Charlie. Như vậy càng làm cho mọi chuyện được thêm phần thoải mái dễ chịu hơn, đúng không? Cháu có thể gọi bác là Eustacia.”

“Cám ơn bác,” Benjamin nói, lo lắng. “Có thực là ba mẹ cháu đã yêu cầu bác đến đây không?”

“Tất nhiên rồi”, ba ta đáp, có vẻ hơi bực mình. “Chứ không thì sao mà ta lại ở đây?”

“Tại cháu thấy hơi lạ…” Benjamin nói.

Bà cô Eustacia tỉnh queo trước câu nói đó. “Tốt hơn hết là cháu nên vào ăn tối đi,” ba ta nhỏ nhẻ. “Bác đã nấu một chút súp nóng rất ngon.”

Benjamin theo bà ta vô bếp và kéo một chiếc ghế ra khỏi bàn. Hạt Đậu gừ một tiếng nhỏ và ngồi xuống bên cạnh Benjamin.

“Chó không được ở trong bếp,” bà cô Eustacia nhắc. Đoạn bà ta đổ một ít chất lỏng, dinh dính màu nâu đang bốc hơi vô một cái tô và để trước mặt Benjamin.

“Suỵt!” bà ta xùy con Hạt Đậu. “Ra ngoài!”

Con Hạt Đậu nhe răng ra, gầm gừ.

Bà Eustacia lùi lại một bước. “Một con chó mới kinh tởm làm sao!” bà ta quàu quạu.. “Benjamin, đuổi nó ra khỏi bếp ngay lập tức.”

“Cháu không thể làm thế được,” Benjamin nói. “Nó thích ăn cùng lúc với cháu.”

“Ha!” bà Eustacia đùng đùng mở các tủ và tìm thấy một hộp thức ăn cho chó, bà ta xúc một ít vô cái tô có chữ “CHÓ” và đặt cái tô ra ngoài hành lang.

“Giờ thì,” bà ta ra lệnh, vừa vẩy một ngón tay vô mặt Hạt Đậu “Ăn đi!”. Bà ta chỉ cái tô.

Con chó đảo tròn mắt và nép sát vô người Benjamin.

Benjamin quyết định rằng mới gặp thì tốt nhất là tránh cãi vã với bà Eustacia, nên nó cúi xuống con Hạt Đậu và nói “Hạt Đậu, ăn tối đi. Tao không sao đâu.”

Hạt Đậu gầm gừ và lúp cúp đi ra ngoài hành lang, rồi đứng đó ồn ào đánh chén tô thức ăn cho chó. Benjamin ước gì mình có thể ăn thực phẩm của chó. Món đó chắc chắn phải ngon hơn cái thứ súp nâu gớm ghiếc này mà bà cô Eustacia mới múc cho nó.

Khi cuối cùng đã xoay xở tống được hết món súp xuống họng, Benjamin bị hộ tống đến tận chân giường.

“Mai còn đi học,” bà Eustacia bảo. “Tối nay cháu nên ngủ sớm đi.”

“Bác sẽ ngủ ở đây à?” Benjamin hỏi.

“Đương nhiên.” Người phụ nữ trông cáu kỉnh trả lời. “Bác là bảo mẫu của cháu mà.”

Benjamin nhớ ra nó cần phải giả bộ như “Mười Hai Tiếng Chuông Của Tolly” vẫn còn trong nhà.

“Tối nay mày ngủ lại ở dưới này nhé,” nó bảo Hạt Đậu, rồi lấy cái ổ chó, đem ra đặt gần cửa tầng hầm.

Con Hạt Đậu có vẻ bối rối, nhưng rồi cũng vâng lời bước vô ổ của mình.

Benjamin chui vô giường, nhưng nó nằm thức thao láo, chờ cho bà Eustacia lên lầu. Cuối cùng, khi đã chắc rằng bà đã lên giường, nó rón rén đi xuống chỗ điện thoại trong hành lang và quay số của Charlie.

“A lô,” tiếng ngoại Maisie vui vẻ cất lên.

“Đây là…” Benjamin không dám nói gì thêm vì có một bóng đen đã xuất hiện ở trên đầu cầu thang.
“Cháu nghĩ là cháu đang làm gì vậy, hả?” bà Eustacia hỏi lớn.

Bên kia đầu dây, giọng ngoại Maisie vẫn dồn dập, “Alô! Alô! Ai đó?”

“Bỏ điện thoại xuống,” bà Eustacia ra lệnh.

“Cháu chỉ muốn gọi cho bạn cháu thôi mà,” Benjamin giải thích. Đúng lúc này con Hạt Đậu bắt đầu sủa vang.

“Gần nửa đêm rồi,” bà Eustacia quát. “Về giường mau!”

“Dạ,” Benjamin đau khổ trả lời. Nó đặt điện thoại vào chỗ cũ rồi lê bước lên giường.

Vào sáng thứ hai, Charlie phải rời nhà thật sớm. Chiếc xe buýt màu xanh của học viện dừng ở đầu đường Filbert, chính xác vào lúc 7 giờ 45 phút, sau đó nó phải mất thêm một tiếng nữa để đón các học sinh khoa nhạc từ khắp nơi trong thành phố.

Vậy nên Charlie không gặp được Benjamin trước khi rời khỏi nhà, và chỉ nghe láng máng lời ngoại Maisie nói với theo, “Đêm qua Benjamin có gọi đến đấy. Bà nghĩ la Benjamin, vì bà nghe có tiếng chó sủa.”

Phải đến khi ngối trên xe buýt rồi thì Charlie mới nhớ lời ngoại Maisie, và nó tự hỏi không biết Benjamin muốn nói gì với nó đêm qua.

Nó tình cờ gặp Fidelio khi cả bọn đang chen chúc đi vô cổng học viện. Chúng hẹn gặp nhau vào giờ ra chơi và sẽ nói chuyện với Olivia Vertigo.

Giờ thì Charlie không còn ngỡ ngàng như một nam sinh mới toe nữa. Hôm nay nó biết chính xác phải đi đâu và làm cách nào tìm ra các vật dụng. Buổi học nhạc với thầy Paltry- Kèn Sáo không được suôn sẻ cho lắm, nhưng nó cố gắng tránh bị phạt cấm túc, và thực ra thì nó đã gắng cư xử cho đúng đắn trong tiết tiếng Anh.

Đến giờ giải lao, trong khu vườn mênh mông đầy sương mù, Charlie và Fidelio bí mật quan sát Olivia đang tán gẫu với một nhóm con gái, trông đứa nào cũng thật kinh dị. Chúng bôi mặt trắng toát, mang ủng cao lênh khênh trông hết sức nguy hiểm, và cả bọn đều để tóc hoặc được tẩy trắng, hoặc được nhuộm màu. Hôm nay tóc Olivia có màu chàm.

Charlie ngoắc tay ra hiệu cho Olivia, cô nàng liền băng băng bước qua bãi cỏ trong đôi ủng khổng lồ, đế dày cui và mũi bọc kim loại.

“Mình cá là Manfred sẽ bắt bồ cởi đôi giày đó ra,” Charlie lưu ý Olivia.

“Tớ sẽ cố tránh đường hắn,” Olivia bảo. “Thế, có gì mới không?”

“Đi dạo đi,” Fidelio đề nghị. “Để người ngoài khỏi nghĩ là tụi mình đang bày mưu tính kế.”

Với Olivia khật khưỡng đi ở giữa, hai thằng con trai lần lượt thuật lại những gì đã xảy ra trong dịp cuối tuần qua.

Olivia rất háo hức. “Mấy người cần tớ đem Emilia tới Mái Ấm Gia Đình Gunn chứ gì?” cô bé hỏi. “Con ấy sẽ không bao giờ chịu đi với một trong hai ấy đâu.”

“Đúng vậy!” Charlie nói.

Nó đã để ý thấy Billy Raven lẽo đẽo đi theo chúng ở phía sau, và tự hỏi không biết có nên nói cho thằng bé bạch tạng ấy biết những gì đang xảy ra hay không. Nhưng nó quyết địng không nói. Bởi vì bây giờ, càng ít người biết bí mật của chúng càng tốt. Cuối tuần này Billy sẽ về nhà cùng với nó. Lúc đó cu cậu sẽ hiểu ra thôi.

Olivia đồng ý dành cả tuần còn lại để kết bạn với Emilia, như thế nó có thể đến nhà Emilia vào cuối tuần.

“Sẽ không dễ đâu,” Olivia nói. “Bởi vì Emilia có vẻ hơi xa cách, mọi người biết ý tớ muốn nói gì rồi đấy. Nhưng tớ cho là nếu đã bị thôi miên thì chắc chắn sẽ thành như thế.”

Nói rồi Olivia sải bước đi luôn, chỉ vẫy tay chào một cái, để có thể dành nốt hai phút cuối giờ giải lao với đám bạn gái “kinh dị” của mình.

Mãi đến khi vô căn-tin Charlie mới gặp Gabriel Silk. Cậu ta phóng ào tới chiếc bàn Charlie đang ngồi cùng Fidelio, làm đổ cả nửa ly nước vô đĩa khoai tây chiên.

“Xin chào!” cậu ta hớn hở. “ Mọi việc ổn cả chứ? Có cần tôi giúp gì không?”

“Bây giờ thì không, cảm ơn anh,” Charlie trả lời.

Garbiel trông có vẻ hân hoan khác thường. Rõ ràng là cậu ta đang mặc toàn đồ mới hoặc đồ đem- lại-cảm-giác-hạnh-phúc. Charlie nhận ra Gabriel có thể là một người bạn hữu ích để kéo về phe mình. Nó đã bắt đầu nghĩ đến việc người nào về phe nó, người nào chống lại nó. Và tự hỏi, tại sao lại phải thế nhỉ?

Mãi đến giờ ăn tối nó mới thấy Manfred, nhưng thật vô cùng nhẹ nhõm cho nó, thằng già này chẳng đếm xỉa gì đến nó cả. Tuy nhiên, Asa vẫn phóng những cái nhìn ranh ma qua chiếc bàn dài. Bữa tối này giống y hệt như bữa tối của thứ hai tuần trước: xúp, trứng và khoai tây chiên, và một trái lê.

“Lúc nào cũng y vậy,” Fidelio ngao ngán.

“Ngày mai sẽ là xúp, xúc xích với khoai tây, bắp cải và một trái táo.”

Charlie ước gì nó có thể đổi tài nghe thấy tiếng nói của mình thành tài biến thức ăn dở thành thức ăn ngon. Nó nhắm mắt lại và giả bộ như có thể làm được. Nó nhận ra món trứng tráng mỏng nguội lạnh đúng là có ngon hơn.

Vì bây giờ đã biết đường đến phòng Nhà Vua nên nó nhận ra mình là người đầu tiên có mặt trong phòng. Hay gần như là vậy. Zelda và Beth đang chơi trò gì đó. Chúng không để ý đến Charlie. Zelda có nước da đen và trông cộc cằn; Beth to con và lực lưỡng với mái tóc xoăn nhạt màu. Chúng đang nhìn nhau trừng trừng ở hai đầu bàn. Ở giữa bàn, một cái hộp gỗ đựng bút chì đang di chuyển, lúc thì về hướng này, sau lại về hướng kia.

Charlie ngồi xen vô khoảng trống rộng rãi giữa hai đứa kia và ném tập vở cái “phịch” xuống bàn.

“Shhh!” Zelda suỵt.

Hộp bút chì vọt về phía con bé.

“Xin lỗi,” Charlie nói.

Hộp bút chì bay lơ lửng và rồi di chuyển về phía Berth. Con nhỏ gầm gừ, chằm chằm nhìn cái hộp, khiến nó quay về phía Zelda. Charlie nhận ra cả hai đều được có phép thuật giống hệt nhau: điều khiển đồ vật bằng ý nghĩ.

Bọn trẻ khác bắt đầu lục tục bước vô phòng, phá vỡ sự tập trung của hai đứa con gái. Tancred và Lysander cùng vô một lúc. Hôm nay Tancred cười tươi roi rói với Charlie. Tóc anh ta trông như càng bị nhiễm điện tợn, và Charlie nhận thấy mái tóc Tancred kêu lắc rắc khi Tancred cố vuốt nó xuống.

“Khỏe không, Charlie Bone?” Lysander hỏi nó với nụ cười xởi lởi.

“Mình khỏe, cám ơn,” Charlie mỉm cười đáp lễ.

“Câm mồm!” Zelda nổi cáu khi hộp bút chì nhảy tót sang một bên, phóng vèo lên không trung rồi lộn phập xuống sàn nhà.

“Cái trò điên rồ,” Lysander nhận xét.

“Đó không phải trò chơi!” Zelda quặc lại, trong khi nhặt hộp bút chì lên.

Charlie đã xoay được một chỗ ngồi cùng bên bàn với Manfred, cho nên nó sẽ không phải lo lắng gì nữa về cái nhìn chòng chọc khủng khiếp của Manfred. Ngồi từ đây, nó có thể quan sát Vua Đỏ tốt hơn nhiều, và trong giờ học nó nhận ra mình nhiều lần cứ ngó chăm chăm vô khuôn mặt tối, bí hiểm ấy. Việc này có một tác dụng lạ kỳ: làm lòng nó dịu xuống, và bài tập về nhà dường như trở nên dễ hơn nhiều so với bình thường. Và đúng vậy, nó đã làm xong đống bài tập trước khi chuông reng.

Fidelio và Charlie đã nhất trí với nhau là không được nói, dù chỉ thì thầm, bất cứ điều gì về Mười Hai Tiếng Chuông Của Tolly trong phòng ngủ chung. Billy cứ nhìn theo Charlie một cách lộ liễu, và ngay trước khi đèn tắt, nó đến đứng cuối giường của Charlie.

“Cuối tuần này em đến nhà anh vẫn được chứ?” Billy hỏi.

“Tất nhiên,” Charlie bảo. “Mẹ anh nói được mà.”

“Và… và anh sẽ làm gì đó với Emilia Moon phải không?” Giọng Billy nghe có vẻ hơi run run.
Charlie đáp “Anh chưa biết.” Nó thấy có gì đó không ổn ở Billy.

Billy lần vội về giường khi tiếng “Tắt đèn” gầm lên. Một bàn tay hộ pháp vòng qua cánh cửa và nhấn công tắc đèn. Charlie tưởng tượng bà cô Lucretia đang rình rập dọc theo các hành lang, nghe ngóng ngoài các cánh cửa. Cuối cùng, trước khi chìm vô giấc ngủ, nó bỗng nhớ đến lời nói của ngoại Maisie, “Đêm qua Benjamin có gọi đến đấy. Bà nghĩ đó là Benjamin vì bà nghe có tiếng chó sủa.”

Tại sao Benjamin lại gọi vào giờ trễ như vậy, và tại sao nó không nói gì hết? Va tại sao con Hạt Đậu lại sủa? Charlie ngủ thiếp đi trước khi có thể suy đoán ra mọi chuyện.

Benjamin chẳng hề ngủ được. Nó sẽ có một ngày cực kỳ không thoải mái đây. Trời lạnh và gió lồng lộng, và trong khi đi bộ từ trường về nhà, nó hình dung ra tất cả những món khoái khẩu, nóng sốt mà nó có thể nấu cho nó và Hạt Đậu: xúc xích, khoai tây chiên, phô mai hơ nóng, thịt gà viên, và chuối nướng vỉ. “Tuyệt! Tuyệt!” Benjamin tự nói với mình. Nó tạm quên bà Eustacia Yewbeam đi.

Nhưng bà ta kia kìa, đang đập xoong chảo rầm rầm trong nhà bếp của Benjamin, như thể đang chuẩn bị một bữa đại tiệc chứ không phải là một chén súp không ra gì. Khi Benjamin đòi ăn xúc xích, bà ta liếc nó một cái thật sắc và nói “Để làm gì nào? Bây giờ không phải là Giáng sinh.”

Hạt Đậu phóng ra khỏi ổ, sủa mừng rỡ và liếm khắp người Benjamin: mặt, hai bàn tay, tai và cổ.

“Cả ngày nay con chó đó không cục cựa gì cả,” bà Eustacia càu nhàu. “Muốn cất cây chổi vô cái tủ tường cũng không được.”

“Nó là một con chó tuyệt vời mà.” Benjamin kiêu hãnh nói. Sau đó, nó phải cay đắng mà hối tiếc về những lời này.

Tối đó, nó nghe thấy tiếng chân bà Yewbeam đi rảo khắp các phòng. Bà ta đang làm gì nhỉ? Bà ta có nguyên một ngày để lục lọi rồi kia mà. Nó có cảm giác mơ hồ là có một người nữa đang ở trong nhà. Cuối cùng, Benjamin nhắm mắt lại và chìm trong giấc ngủ khó nhọc.

Một hỗn hợp âm thanh kinh khủng, với những tiếng tru, tiếng rú, và rên rỉ dựng Benjamin dậy. Nó nhảy ra khỏi giường và chạy tới đầu cầu thang.

“Hạt Đậu?” nó gọi. “Phải mày không?”

Một tiếng gừ khẽ, rồi một hồi tru, sau đó là tiếng sủa inh tai đáp lời nó. Có cái gì đó đang tấn công con Hạt Đậu. Benjamin lao xuống lầu.

“Hạt Đậu! Hạt Đậu! Tao tới liền đây,” nó thét lên.

Có tiếng rú lên kinh hoàng, và cánh cửa mở toang một cái đánh “sầm”.

Benjamin chạy qua ngoài hành lang về phía cửa mở. Nó suýt đổ ập lên thân hình bất động của Hạt Đậu.

“Hạt Đậu!” Benjamin thét lên., quỳ xuống cạnh cái đầu bờm xờm của con chó.

Hạt Đậu rên lên một tiếng yếu ớt, buồn thảm, và Benjamin vuốt lên bộ lông thô ráp, nhận ra bộ lông phủ đầy một thứ gi đó nhơm nhớp.

Đèn ngoài hành lang bật sáng và bà phăm phăm đi xuống cầu thang. “Có chuyện gì đó?” bà ta hỏi.

“Con chó của cháu bị tấn công,” Benjamin la lên. “Người nó dính toàn máu.”

“Ta… ta… ghê quá!” Bà Yewbeam tuyên bố. “Chúng ta sẽ gọi bác sĩ thú y vào sáng mai.”

“Cháu không thể để nó như thế này được,” Benjamin cãi lại.

Nó chạy vô bếp và xông ra lại với một chén nước và một ít mảnh vải cũ. Bà Eustacia đứng nhìn trong khi Benjamin rửa sạch vết máu và bôi thuốc sát trùng cho Hạt Đậu. Vết thương của con chó giống như nững vết cắn to. Nhưng loài vật nào có thể đột nhập vô nhà? Và tại sao nó lại đột nhập vô đây?

Bà Eustacia giục Benjamin đi ngủ. Nhưng nó không chịu.

“Cháu sẽ ngủ ở dưới này với con Hạt Đậu,” nó nói. Nó lấy ra một cái mền và một cái gối rồi nằm suốt đêm bên cạnh con chó bị thương.

Trong ánh sáng lạnh lẽo của sáng thứ ba, Hạt Đậu trông rất yếu. Benjamin nhất quyết không đến trường nữa.

“Hạt Đậu có thể sẽ chết lúc cháu vắng nhà,” nó khóc.

“Vớ vẩn,” bà Yewbeam cố sức kéo Benjamin lên phòng nó.

“Không! Không! Không!” nó gào lên.

Bà ta mang quần áo của nó xuống lầu và cố bắt nó thay quần áo. Nó chống cự và vùng vẫy. Bà ta tát tai, xô đẩy và kéo giật nó.

“Cứu tôi với!” Benjamin hét lên, cho dù nó không biết mình đang cầu cứu ai.

Và rồi nhớ lại những lời Charlie đã dặn, nó vọt ra cửa trước, nhảy xuống mấy bậc thang, vẫn mặc nguyên đồ ngủ, phóng qua đường đến nhà số 9, đấm vào cửa thình thình.

Cửa mở tung, Benjamin ngã dúi vào hành lang. Nó ngẩng lên thì nhận ra trước mắt là gương mặt quàu quạu của nội Bone.

“Mày đang làm trò gì thế hả, Benjamin Brown?” nội Bone hỏi.

“Con muốn gặp Ông cậu Paton,” Benjamin vừa đáp vừa ráng gượng dậy. “Ông Paton Yewbeam ạ.”

“Ông ấy không rảnh cho mày gặp đâu,” nội Bone nói.

“Ông rảnh mà,” Benjamin nói rồi gọi toáng lên “Ông cậu Paton ơi!”

“Suỵt!” nội Bone ra lệnh.

Mấy cánh cửa trên lầu đồng loạt mở ra, ngoại Maisie và mẹ Charlie từ trên đầu cầu thang nhìn xuống.

“Benjamin, chuyện gì đó con?” mẹ Charlie hỏi.

“Con chó của con bị tấn công. Con cần Ông cậu Paton của Charlie,” Benjamin hét lên.

Khi hai người phụ nữ bắt đầu chạy xuống chỗ Benjamin, thì Ông cậu Paton xuất hiện ở bậc thang trên cùng, khoác áo choàng nhung đỏ.

“Ai cần ta vậy?” ông hỏi.

“Con! Con ạ, ông Yewbeam ơi!” Benjamin rối rít. “Con chó của con bị thương. Nó chết mất. Ông làm ơn giúp con với được không?”

avatar
HD
Mem có nhiều đóng góp
Mem có nhiều đóng góp

Tổng số bài gửi : 268
Thành tích : 125397
Điểm cộng từ admin : 64
Join date : 11/02/2011
Age : 22
Đến từ : Sai Gon

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết